vanban.org

Bản án 35/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 06/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Minh Ch phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Hồ Minh Ch 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2023. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 192.514.000 đồng (một trăm chín mươi hai triệu tám trăm ba mươi bốn nghìn đồng); Không chấp nhận yêu cầu của đại diện bị hại yêu cầu bị cáo …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Minh Chí - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Minh Ch phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST
Ngày 06- 3 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI

CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Trọng Tâm

Ông Nguyễn Hoàng Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Kiều, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST- HS ngày 16/01/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Hồ Minh Ch; Sinh năm 1986; Nơi cư trú: ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Thiện Ph và bà Tạ Thị N3; Anh chị em ruột: 04 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Bích N; Con: 01 người, sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giam: 12.10.2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm K, là Luật sư của Công ty Luật TNHH Luật Sống, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau. (có mặt)

Bị hại: Ông Đoàn Văn S, sinh năm 1963 (chết)

Người đại diện bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968;

2. Anh Đoàn Văn T, sinh năm 1993;

3. Chị Đoàn Thị Y1, sinh năm 2005;

4. Anh Đoàn Văn Tr, sinh năm 1990. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã LV, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của bà L, chị Ý, anh T: Anh Đoàn Văn Tr, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp C, xã LV, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Thanh L2, sinh năm 1991. Địa chỉ: khóm V, phường K, thành phố C, tỉnh Cà Mau; (vắng mặt)

2. Ông Lý Hoàng N1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau; (vắng mặt)

3. Ông Chung Văn C, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp C, xã LV, thành phố C, tỉnh Cà Mau; (vắng mặt)

4. Bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau; (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 06 tháng 6 năm 2023, ông Chung Văn C có hợp đồng với Công ty TNHH MTV Tài nguyên và Môi trường Dâng Phong để đo đạc phần đất tranh chấp với ông Đoàn Văn S, phần đất tranh chấp tọa lạc tại ấp Chánh, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau. Khi đang tiến hành đo đạc ông C đem bản đồ vị trí đất ra xem thì ông S ra cự cãi với ông C, ông S dùng tay giật mạnh làm rách tờ bản đồ rồi dùng tay đánh nhau với ông C, Ch thấy vậy can ngăn nên ông C bỏ đi, còn Ch thì bị ông S đánh, Ch cũng dùng tay đánh lại ông S và cự cải với ông S, thấy vậy ông L2 và ông G can ngăn, sau đó ông S đi đến gần hàng rào nhà ông S và lượm một đoạn cây gỗ rồi đi đến chỗ Ch đứng. Khi thấy ông S cầm đoạn cây gỗ đi lại thì Ch vịn hai tay vào người ông L2 và ông G, xoay người về phía ông S, dùng chân đạp trúng vào ngực ông S, làm ông S té ngã ngửa ra sau, đầu đập xuống lộ xi măng bất tỉnh. Sau đó, Ch cùng với ông L2 đưa ông S đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau điều trị, đến ngày 10 tháng 6 năm 2023 ông S tử vong.

Tại Bệnh án thể hiện ông Đoàn Văn S bị thương tích dập xuất huyết não trán hai bên, tụ máu dưới màng cứng trán thái dương trái, xuất huyết liềm não, xuyết huyết bể quanh thân não, não thất IV, nứt sọ chẩm trái, dẫn đến tử vong.

Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 31/KLGĐTT-TTPY ngày 17.7.2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Cà Mau kết luận:

1. Các kết quả Chnh:

* Khám ngoài

- 01 mảng sưng nề, tụ máu dưới da vùng chẩm, kích thước: 04cm x 3,5cm.

- 01 vết xây xát da cổ bên phải, kích thước: 3,5cm x 0,5cm đang rỉ máu, chưa khô mày.

- 01 vết tụ máu dưới da bên núm vú phải, kích thước: 04cm x 0,5cm.

- 01 mảng xây xát da kèm thay đổi S tố da vùng thượng vị lệch trái, kích thước: 08cm x 03cm.

* Khám trong:

- 01 mảng bầm, tụ máu dưới da đầu vùng đỉnh chẩm, kích thước: 11,5cm x 08cm.

- 01 đường nứt sọ vùng chẩm trái, kích thước: 04cm x 0,1cm.

- 01 mảng tụ máu dưới màng cứng vùng trán thái dương đỉnh trái, tổng kích thước: 22cm x 13cm, có huyết khối.

- Dập não vùng trán hai bên, tổng kích thước: 10cm x 08cm.

- Chảy máu trong não thất bên và não thất IV. Tụ máu quanh thân não và các bể quanh não; Chảy máu (xuất huyết) trong cầu não.

- 01 đường nứt sọ từ vùng chẩm trái đến lỗ chẩm, kích thước: 12cm x 0,1cm.

- Lòng khí quản chứa ít dịch loãng màu đỏ.

- Phổi phải: dính vào thành ngực, sung huyết.

- Phổi trái: sung huyết.

- Gan, lách: sung huyết.

- Dạ dày chứa nhiều dịch màu xanh đen kèm theo thức ăn.

* Cận lâm sàng:

- Hóa pháp (Độc chất): (kèm theo Bản kết luận giám định Độc chất số 656/743/23/KLGĐĐC-PYQG ngày 28.6.2023 của Phân Viện Pháp y Quốc gia tại thành phố Hồ Ch Minh).

Mẫu phủ tạng:

+ Có tìm thấy Paracetamol.

+ Không tìm thấy các chất độc khác trong danh mục tầm soát.

- Mô bệnh học (Vi thể): (kèm theo Bản kết luận giám định Mô bệnh học số 135/KLMBH – PVPYQG ngày 05.7.2023 của Phân Viện Pháp y Quốc gia tại thành phố Hồ Ch Minh)

+ Não: dập não, xuất huyết, tụ máu trong nhu mô não.

+ Tim: thiểu dưỡng cơ tim cấp trên nền cơ tim phì đại và xơ hóa mạch máu.

+ Phổi: phù phổi cấp.

+ Gan: sung huyết.

1. Kết luận:

- Kết luận nguyên nhân chết: phù phổi cấp/Chấn thương sọ não nặng.

- Kết luận khác: không.

Vật chứng thu giữ được: 01 đoạn cây gỗ kích thước 37cm x 5cm x 2cm.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố Hồ Minh Ch về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Minh Ch phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Minh Ch từ 07 năm đến 08 năm tù.

Trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 590, 591 của Bộ luật dân sự. Đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại như sau:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa (gồm tiền thuốc, viện phí, tiền xe chở cấp cứu 4.182.000 đồng;

- Chi phí thăm nuôi bệnh 2.000.000 đồng

- Chi phí hợp lý cho việc mai táng: 68.380.000 đồng; không chấp nhận 50.381.080 đồng.

- Tiền mất thu nhập cho 04 người: 6.040.000 đồng, không chấp nhận 43.960.000 đồng.

- Tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 100 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/tháng = 180.000.000 đồng;

Tổng cộng: 260.562.000 đồng.

- Bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 50.000.000 đồng, đề nghị buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 210.562.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 đoạn cây gỗ kích thước 37cm x 5cm x 2cm.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, bị cáo xác định Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan sai. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại theo quy định, không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại.

Lời nói sau cùng: Bị cáo yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Quan điểm của Người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với nội dung cáo trạng, lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh đối với bị cáo. Tuy nhiên, về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất khung hình phạt tại khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự, đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, với lý do bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 gồm thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả, bị cáo tích cực đưa bị hại đi cứu chữa làm giảm bớt tác hại của tội phạm theo điểm a, b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 là người thân có công với cách mạng. Ngoài ra, bị hại có một phần lỗi trong vụ án này, bị cáo còn là lao động chính trong gia đình. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tác động gia đình khắc phục hậu quả 50.000.000 đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường cho bị hại theo quy định, không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại.

- Đại diện bị hại yêu cầu tổng cộng 356.091.180 đồng bao gồm các khoản:

+ Chi phí cứu chữa 14.996.466 đồng, tại phiên tòa thay đổi còn yêu cầu 4.820.100 đồng;

+ Chi phí thăm nuôi bệnh, khám nghiệm: 2.510.000 đồng.

+ Chi phí mai táng: 118.761.080 đồng.

+ Khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 50.000.000 đồng, tại phiên tòa thay đổi yêu cầu 180.000.000 đồng;

+ Thu nhập thực tế bị mất cho 04 người nuôi bệnh: 50.000.000 đồng.

Về trách nhiệm hình sự, yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định.

- Chị Nguyễn Thị Bích N: Chị không yêu cầu gì đối với bị cáo về số tiền chị cùng bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh L2, ông Chung Văn C, ông Lý Hoàng N có yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của ông L2, ông C, ông N không trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật hình sự, xét xử vắng mặt đối với ông L2, ông C, ông N theo luật định.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Minh Ch khai nhận: Vào khoảng 16 giờ, ngày 06 tháng 6 năm 2023, do mâu thuẫn nhất thời trong lời nói và hành vi nên Hồ Minh Ch không tự chủ được bản thân đã dùng chân đạp vào vùng ngực ông Đoàn Văn S làm ông S té ngã, đầu bị đập xuống lộ xi măng gây chấn thương vùng đầu dẫn đến tử vong. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Biên bản khám nghiêm hiện trường; kết luận giám định tử thi và nhiều tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, nên có căn cứ chấp nhận.

[4] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng chân đạp vào cơ thể người khác sẽ gây thương tích cho họ là vi phạm pháp luật hình sự, phải bị pháp luật xử lý nghiêm khắc. Thế nhưng, chỉ vì mâu thuẫn lời nói và hành vi, chỉ vì bị cáo có ý thức xem thường sức khỏe, tính mạng của người khác, xem thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả làm cho bị hại Đoàn Văn S bị chấn thương sọ não, dẫn đến tử vong. Vì vậy, hành vi thực hiện tội phạm và hậu quả do bị cáo gây ra như đã nêu trên, đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố Hồ Minh Ch về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[5] Xét tính chất, mức độ thực hiện tội phạm của các bị cáo là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, bởi hành vi của bị cáo không chỉ xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, vi phạm pháp luật hình sự, mà hành vi đó còn gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân, gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Với tính chất, mức độ thực hiện tội phạm của bị cáo gây ra, xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; Bị cáo tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại. Mặt khác, xét thấy, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; ông nội của bị cáo là ông Hồ Phước L3 và ông ngoại là ông Tạ Văn L4 là người có công với Nhà nước, được tặng huân, huy chương kháng chiến hạng nhất và huy chương kháng chiến hạng nhì; sự việc xảy ra, bị cáo tích cực đưa bị hại đi cứu chữa. Ngoài ra, bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ án này. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra gia đình của Hồ Minh Ch đã bồi thường tổng số tiền 50.000.000 đồng cho gia đình bị hại.

Ông Đoàn Văn Tr là người đại diện cho gia đình bị hại yêu cầu Hồ Minh Ch bồi thường tổng số tiền là 236.267.546 đồng, tại phiên tòa thay đổi yêu cầu 356.091.180 đồng bao gồm các khoản:

- Chi phí cứu chữa 14.996.466 đồng, tại phiên tòa thay đổi còn yêu cầu 4.820.100 đồng;

- Chi phí thăm nuôi bệnh, khám nghiệm: 2.510.000 đồng.

- Chi phí mai táng: 118.761.080 đồng.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần: 50.000.000 đồng, tại phiên tòa thay đổi yêu cầu 180.000.000 đồng;

- Thu nhập thực tế bị mất cho 04 người nuôi bệnh: 50.000.000 đồng.

Xét thấy, số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại của gia đình bị hại là cao so với quy định của pháp luật, nên cần điều chỉnh lại, cụ thể:

- Khoản tiền chi phí cứu chữa: Thời gian điều Tr tính từ ngày 06/6/2023 đến ngày 10/6/2023 là 05 ngày: tiền thuốc theo toa vé 3.624.000 đồng; tiền xe đi cấp cứu 210.000 đồng; tiền thuê xe và túi đựng thi thể về 700.000 đồng, tiền mua đồ khám nghiệm 200.000 đồng; Tổng cộng 4.743.000 đồng;

- Chi phí hợp lý cho việc mai táng: 68.131.000 đồng, không chấp nhận 50.630.080 đồng.

- Tiền thu nhập thực tế bị mất người nuôi bệnh:

+ Bà L 200.000 đồng/ngày x 05 ngày = 1.000.000 đồng;

+ Anh Tr 400.00 đồng/ngày x 05 ngày = 2.000.000 đồng;

+ Anh T: 300.000 đồng/ngày x 05 ngày = 1.500.000 đồng;

+ Chị Nguyễn Kim N3 308.000 đồng/ngày x 05 ngày = 1.540.000 đồng

Tổng cộng 6.040.000 đồng, không chấp nhận 43.960.000 đồng.

- Tiền ăn người nuôi bệnh 05 ngày x 80.000/ngày/người = 400.000 đồng/người x 04 người. Tổng cộng là 1.600.000 đồng.

- Đối với khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần gia đình bị hại yêu cầu 180.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, sự việc xảy ra bị hại cũng có một phần lỗi, là người có hành vi gây cự cải và xô xát trước, cũng là người có hành vi dùng cây gỗ có y định đánh bị cáo, nên mới dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên chỉ xem xét chấp nhận buộc bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại 90 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/tháng = 162.000.000 đồng là phù hợp.

Do đó, số tiền bồi thường được chấp nhận là: 242.514.000 đồng, không chấp nhận 113.577.180 đồng.

Như vậy, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại các khoản với tổng số tiền là 242.514.000 đồng – 50.000.000 đồng = 192.514.000 đồng là có căn cứ.

[8] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Đối với số tiền bồi thường chênh lệch không được chấp nhận, xét thấy đây là yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm thuộc trường hợp miễn nộp án phí theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên gia đình bị hại không phải chịu án phí.

[9] Xử lý vật chứng: 01 đoạn cây gỗ kích thước 37cm x 5cm x 2cm. Xét thấy, vật chứng này không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.

[10] Án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hồ Minh Ch phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Hồ Minh Ch 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2023.

Căn cứ các Điều 584, 590, 591 của Bộ luật dân sự.

Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 192.514.000 đồng (một trăm chín mươi hai triệu tám trăm ba mươi bốn nghìn đồng); Không chấp nhận yêu cầu của đại diện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chênh lệch 113.577.180 đồng.

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị L, anh Đoàn Văn Tr, anh Đoàn Văn T, chị Đoàn Thị Y1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Hồ Minh Ch, không thi hành xong số tiền trên thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm thi thành tương ứng với thời gian chậm thi hành.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 đoạn cây gỗ kích thước 37cm x 5cm x 2cm, theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/01/2024.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (chưa nộp). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 9.641.700 đồng (chưa nộp). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo, đại diện bị hại, chị Nguyễn Thị Bích N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Thanh L2, ông Chung Văn C, ông Lý Hoàng N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án, hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ