- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-3-2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tân Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Nam và bà Phan Thị Oanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cao Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25/3/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 376/2023/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/02/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/3/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
- Bị đơn: Anh Phan T1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
2/ Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
3/ Vợ chồng ông Phan T2, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân năm 2010, có đăng ký kết hôn, được UBND xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh T1 chơi cờ bạc gây nợ nần, còn nhậu nhẹt rượu chè về đánh đập vợ con nên dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Mâu thuẫn vợ chồng không được gia đình hai bên cũng như chính quyền địa phương hòa giải. Chị T về nhà cha mẹ sống từ tháng 5/2023 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên chị T yêu cầu ly hôn với anh T1.
- Về con chung: Có 03 con chung tên là Phan Nhã L, sinh ngày 16/12/2011; Phan Gia K, sinh ngày 12/5/2016 và Phan Nhã P, sinh ngày 13/12/2018; Hiện nay cháu L và cháu K đang sống với anh T1, cháu P sống với chị T. Ly hôn, chị T yêu cầu nuôi dưỡng cháu P, anh T1 nuôi dưỡng cháu L và cháu K, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Có 01 ngôi nhà cấp 4 được xây dựng trên diện tích đất 97 m2, tọa lạc tại thôn L, xã A , thành phố T, Phú Yên.
Nguồn gốc đất là của cha mẹ anh T1, ông Phan T2 và bà Nguyễn Thị S cho vợ chồng chị T để xây dựng nhà ra ở riêng vào năm 2013. Kinh phí để xây dựng nhà là do vợ chồng tự bỏ tiền ra xây dựng, số tiền cụ thể bao nhiêu không nhớ nhưng chị T thống nhất với giá 190.481.600 đồng mà Hội đồng định giá đã định vào ngày 10/01/2023. Ly hôn, chị T đồng ý trả lại diện tích đất đã sử dụng cho ông T2 và bà S. Đối với phần xây dựng nhà, chị T yêu cầu được nhận ½ giá trị phần xây dựng nhà.
Về nợ chung: Nợ bà Nguyễn Thị N 03 chỉ vàng loại 4 số 9; nợ Nguyễn Thị X 01 chỉ vàng 4 số 9, nợ công ty T3 đứng tên anh T1 vay 30.000.000 đồng; đứng tên chị T vay 45.000.000 đồng. Ly hôn, chị T yêu cầu cả hai vợ chồng cùng có trách nhiệm trả nợ cho bà N và bà X, đối với khoản nợ của công ty T3, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không có tài sản chung và nợ chung nào khác.
* Trong quá trình giải quyết vụ án: Bị đơn anh Phan T1 trình bày được tóm tắt như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 thống nhất như lời trình bày của chị T về quá trình kết hôn. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bản thân ông có chơi cờ bạc và gây nợ nần nên vợ buồn bỏ về nhà cha mẹ vợ sống. Tuy nhiên hiện nay anh T1 đã thay đổi, đã khắc phục được nợ nần, tha thiết xin lỗi vợ, mong muốn gia đình hạnh phúc và xin được đoàn tụ nhưng chị T vẫn kiên quyết ly hôn nên anh T1 đồng ý ly hôn với chị T.
- Về con chung: Có 03 con chung như chị T trình bày và anh T1 thống nhất như ý kiến của chị T, không trình bày bổ sung gì thêm.
- Về tài sản chung: Anh T1 thống nhất như lời trình bày của chị T. Ly hôn, anh T1 không đồng ý thối lại ½ giá trị phần xây dựng nhà cho chị T, vì hiện nay anh không có tiền thối lại, nếu chị T quay về chung sống thì tiếp tục sống chung trong nhà, nếu ly hôn thì hai vợ chồng đập phá nhà trả lại đất cho cha mẹ anh.
Về nợ chung: Nợ bà Nguyễn Thị N 03 chỉ vàng loại 4 số 9; nợ Nguyễn Thị X 01 chỉ vàng 4 số 9 để xây dựng nhà. Ly hôn, anh T1 đồng ý trả nợ chung của vợ chồng, cả hai vợ chồng cùng có trách nhiệm trả nợ chung.
Đối với nợ công ty T3 đứng tên ông T1 vay 30.000.000 đồng; đứng tên T vay 45.000.000 đồng là nợ riêng của từng người nên ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị N trình bày: Tôi là mẹ ruột của chị T. Năm 2013 vì thiếu tiền xây dựng nhà nên vợ chồng chị T và anh T1 mượn tôi 03 chỉ vàng y loại 4 số 9999 , khi mượn vì chỗ mẹ con nên không lập giấy tờ cho mượn. Nay chị T và anh T1 ly hôn, tôi yêu cầu chị T và anh T1 cùng có trách nhiệm trả nợ cho tôi, tôi không yêu cầu tính lãi suất.
2/ Bà Nguyễn Thị X trình bày: Tôi là dì ruột của chị T. Năm 2019 vì thiếu tiền đi chữa bệnh cho con nên vợ chồng chị T và anh T1 mượn tôi 01 chỉ vàng y loại 4 số 9999 , khi mượn vì chỗ dì cháu nên không lập giấy tờ cho mượn. Nay chị T và anh T1 ly hôn, tôi yêu cầu chị T và anh T1 cùng có trách nhiệm trả nợ cho tôi, tôi không yêu cầu tính lãi suất.
3/ Ông Phan T2 và bà Nguyễn Thị S thống nhất cùng trình bày: Chúng tôi là cha mẹ ruột của ông T1. Năm 2013 chúng tôi có cho vợ chồng chị T và anh T1 mượn đất khoảng 97m2 tọa lạc tại thôn L, xã A, thành phố T để xây dựng nhà ra sống riêng. Nay chị T và anh T1 ly hôn, chúng tôi yêu cầu chị T và anh T1 trả lại diện tích đất đã sử dụng cho vợ chồng chúng tôi. Về phần xây dựng nhà là của vợ chồng chị T và anh T1 xây dựng nên chúng tôi không có ý kiến và tranh chấp gì.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà X, bà N giữ nguyên lời trình bày.
Bị đơn anh T1 vắng mặt nên không có lời trình bày.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông T2 và bà S thống nhất cùng trình bày: Chúng tôi yêu cầu anh T1 và chị T trả lại diện tích đất 97m2 tọa lạc tại thôn L, xã A, thành phố T. Chúng tôi đồng ý thối lại giá trị phần xây dựng nhà là 190.481.600 đồng mà Hội đồng định giá đã định vào ngày 10/01/2023 cho anh T1 và chị T.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định. Đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật; Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị T cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: chị T được ly hôn với anh T1; Về con chung: Giao cháu P cho chị T nuôi dưỡng; giao cháu L và cháu K cho anh T1 nuôi dưỡng; không ai không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Buộc anh T1 và chị T phải trả lại diện tích 97m2 tọa lạc thôn L, xã A, Tp T, Phú Yên cho vợ chồng ông T2 và bà S. Ghi nhận ông T2 và bà S nhận phần xây dựng nhà cấp 4 và thối lại giá trị phần xây dựng nhà là 190.481.600 đồng cho anh T1, chị T, anh T1 và chị T mỗi người được nhận 1/2 giá trị tài sản là 190.481.600 đồng/2 = 95.240.800 đồng. Về nợ chung: Anh T1 và chị T phải trả cho bà N 03 chỉ vàng loại 4 số 9999; trả cho bà X 01 chỉ vàng loại 4 số 9999. Đối với khoản nợ của công ty T3 thì đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xét. Về chi phí tố tụng: Số tiền chi phí định giá tài sản là 2.000.000 đồng, nguyên đơn chị T và bị đơn anh T1 mỗi người chịu ½ chi phí định giá tài sản là 2.000.000 đồng/2= 1.000.000 đồng. Chị T đã nộp tạm ứng số tiền 2.000.000 đồng nên anh T1 phải trả cho chị T số tiền 1.000.000 đồng.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Phan T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân năm 2010, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 62, quyển số 01 ngày 27/11/2010 nên được coi là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do anh T1 chơi cờ bạc gây nợ nần nên dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, chị T và anh T1 sống ly thân từ tháng 05/2023 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay chị T kiên quyết ly hôn với anh T1 và anh T1 đồng ý ly hôn với chị T. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T1.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị T và anh T1 có 03 con chung tên là Phan Nhã L, sinh ngày 16/12/2011; Phan Gia K, sinh ngày 12/5/2016 và Phan Nhã P, sinh ngày 13/12/2018; Hiện nay cháu L và cháu K đang sống với anh T1, cháu P sống với chị T. Ly hôn, chị T và anh T1 thống nhất giao cháu P cho chị T nuôi dưỡng, giao cháu L và cháu K cho anh T1 nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật, đạo đức xã hội và nguyện vọng của cháu L và cháu K nên cần ghi nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh T1 không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống, chị T và anh T1 thống nhất có tài sản chung là phần xây dựng ngôi nhà cấp 4 được xây dựng trên đất của cha mẹ ruột anh T1 là ông T2 và bà S.
Đối với phần diện tích đất thì các bên đều xác định là đất của ông T2 và bà S và các bên đương sự không có tranh chấp và thống nhất trả lại diện tích đất 97 m2 trong đó chiều rộng 5 m, chiều dài 19,4 m tại thửa đất số 1939, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại thôn L,xã A, thành phố T,tỉnh Phú Yên có giới cận: Phía Tây giáp đất và nhà ông Phan T2, phía Bắc giáp đất trống, phía Nam giáp đất nhà ông Võ Nhật C, phía Bắc giáp đường đi cho ông T2 và bà S. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với đạo đức xã hội và quy định của pháp luật nên cần ghi nhận.
Đối với phần xây dựng nhà: Xét thấy, phần kết cấu ngôi nhà không thể tách rời giữa phần đất và phần xây dựng nhà và tại phiên tòa, ông T2 và bà S tự nguyện nhận phần xây dựng nhà và thối lại giá trị phần xây dựng nhà theo Biên bản định giá ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản đã xác định tổng giá trị phần xây dựng nhà là 190.481.600 đồng. Do đó, cần tiếp tục giao phần xây dựng nhà cho ông T2 và bà S sở hữu và ông T2, bà S phải trả cho anh T1, chị T tổng giá trị tài sản ngôi nhà là 190.481.600 đồng, cụ thể trả cho anh T1 95.240.800 đồng, chị T 95.240.800 đồng.
Về nợ chung: Bà N yêu cầu anh T1 và chị T trả 03 chỉ vàng y loại 4 số 9999, bà X yêu cầu anh T1 và chị T trả 01 chỉ vàng y loại 4 số 9999. Xét thấy, anh T1 và chị T đều xác định có nợ bà N 03 chỉ vàng y loại 4 số 9999, nợ bà X 01 chỉ vàng y loại 4 số 9999 và đồng ý trả nợ. Do đó cần buộc anh T1 và chị T cùng có trách nhiệm trả nợ cho bà N 03 chỉ vàng y loại 4 số 9999 x 6.786.000 đồng/chỉ (giá vàng ngày 25/03/2024) = 20.358.000 đồng, cụ thể anh T1 và chị T mỗi người phải trả cho bà N 10.179.000 đồng
Bà X 01 chỉ vàng y loại 4 số 9999 x 66.786.000 đồng/chỉ (giá vàng ngày 25/03/2024) = 6.786.000 đồng, cụ thể anh T1 và chị T mỗi người phải trả cho bà X 3.393.000 đồng.
Đối với số nợ của công ty T3 đứng tên ông T1 vay 30.000.000 đồng; đứng tên T vay 45.000.000 đồng là nợ riêng của từng người nên anh T1 và chị T thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án đã triệu tập công ty T3 đến Tòa để làm việc nhưng công ty T3 không có đơn yêu cầu khởi kiện cũng như nộp tiền tạm ứng án phí. Do đó, cần tách thành vụ kiện dân sự khác nếu các đương sự có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về chi phí tố tụng: Số tiền chi phí định giá tài sản là 2.000.000 đồng, nguyên đơn chị T và bị đơn anh T1 mỗi người chịu ½ chi phí định giá tài sản là 2.000.000 đồng/2= 1.000.000 đồng. Chị T đã nộp tạm ứng số tiền 2.000.000 đồng nên anh T1 phải trả cho chị T số tiền 1.000.000 đồng.
Từ những căn cứ nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thanh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thanh T được ly hôn với anh Phan Tứ .
2. Về con chung: Giao cháu Phan Nhã L, sinh ngày 16/12/2011 và cháu Phan Gia K, sinh ngày 12/5/2016 cho anh Phan T1 tiếp tục nuôi dưỡng; giao cháu Phan Nhã P, sinh ngày 13/12/2018 cho chị Phạm Thị Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Thanh T và anh Phan T1 không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp cần thiết có thể yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng.
3. Về tài sản chung:
Chị Phạm Thị Thanh T và anh Phan T1 phải trả lại phần diện tích đất 97 m2 trong đó chiều rộng 5 m, chiều dài 19,4 m thuộc thửa đất số 1939, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại thôn L,xã A, thành phố T,tỉnh Phú Yên có giới cận: Phía Tây giáp đất và nhà ông Phan T2, phía Bắc giáp đất trống, phía Nam giáp đất nhà ông Võ Nhật C, phía Bắc giáp đường đi mà anh Phan T1 đang quản lý, sử dụng cho ông Phan T2 và bà Nguyễn Thị S.
Ông Phan T2 và bà Nguyễn Thị S được quyền sở hữu phần xây dựng nhà cấp 4 được xây dựng trên diện tích đất của ông Phan T2 và bà Nguyễn Thị S. Ông Phan T2 và bà Nguyễn Thị S phải trả cho chị Phạm Thị Thanh T số tiền 95.240.800 đồng (chín mươi lăm triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm đồng) và anh Phan T1 số tiền 95.240.800 đồng (chín mươi lăm triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm đồng) về khoản chênh lệch giá trị tài sản.
Về nợ chung: Chị Phạm Thị Thanh T phải trả cho bà Nguyễn Thị N 10.179.000 đồng (mười triệu một trăm bảy mươi chín nghìn đồng) và bà Nguyễn Thị X số tiền 3.393.000 đồng (ba triệu ba trăm chín mươi ba nghìn đồng) về khoản vay tài sản.
Anh Phan T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị N 10.179.000 đồng (mười triệu một trăm bảy mươi chín nghìn đồng) và bà Nguyễn Thị X số tiền 3.393.000 đồng (ba triệu ba trăm chín mươi ba nghìn đồng) về khoản vay tài sản.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Tách khoản nợ của công ty T3 với chị Phạm Thị Thanh T và anh Phan T1 bằng vụ kiện dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.
4. Về chi phí tố tụng: Số tiền chi phí định giá tài sản là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T và bị đơn anh Phan Tứ m người chịu ½ chi phí định giá tài sản là 2.000.000 đồng(hai triệu đồng)/2= 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Chị Phạm Thị Thanh T đã nộp tạm ứng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) nên anh Phan T1 phải trả cho chị Phạm Thị Thanh T 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
5. Về án phí: Chị Phạm Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 5.440.640 đồng (năm triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng sáu trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009977 ngày 05/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên nên chị T còn phải nộp 5.440.640 đồng (năm triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng sáu trăm bốn mươi đồng).
Anh Phan T1 phải chịu 5.440.640 đồng (năm triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng sáu trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án phí 457.000 đồng (bốn trăm năm mươi bảy nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012763 ngày 01/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012764 ngày 01/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND Tp.T; - Chi cục THADS Tp T; - UBND xã .., Tp T; (Số 62, quyển số 01 ngày 27/11/2010) - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Tân Sang |