vanban.org

Bản án 35/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hoàng L và anh Phạm Bá Chính H. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Hoàng L trực tiếp nuôi dưỡng các con chung Phạm Nam Nh, sinh ngày 30/9/2008 và Phạm Ngọc D, sinh ngày 21/2/2014 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được; anh Phạm Bá Chính H khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 35/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30/9/2024
“V/v ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Ngọc Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Quốc Phòng; bà Lê Thị Huấn

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Loan – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXX-ST ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoàng L, sinh năm 1990; địa chỉ: tổ dân phố số, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

* Bị đơn: Anh Phạm Bá Chính H, sinh năm 1982; nơi ĐKNKTT: tổ dân phố số, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; hiện đang chấp hành án tại Trại giam Nam Hà; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoàng L trình bầy: Chị đăng ký kết hôn với anh Phạm Bá Chính H vào ngày 30/10/2009 tại UBND thị trấn Hoà Mạc, huyện Duy Tiên (nay là UBND phường H, thị xã Duy Tiên), tỉnh Hà Nam trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng không hoà hợp, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn không thể hàn gắn được, vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay không quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh H.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phạm Bá Chính H trình bày: anh và chị Nguyễn Thị Hoàng L đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đăng ký kết hôn năm 2009. Theo anh sau ngày cưới vợ chồng anh hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng có một số bất đồng không thể hàn gắn được, quá trình anh chấp hành án ở trại giam thì chị L cũng không thường xuyên lên thăm, động viên, nay chị L xin ly hôn thì anh chưa đồng ý. Ngoài ra anh không trình bày gì thêm.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hoàng L trình bày vợ chồng có 02 con chung là Phạm Nam Nh, sinh ngày 30/9/2008 và Phạm Ngọc D, sinh ngày 21/2/2014. Khi ly hôn chị L xin nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung Phạm Nam Nh, Phạm Ngọc D có nguyện vọng xin được ở với mẹ.

Về tài sản chung, công sức, công nợ: Chị Nguyễn Thị Hoàng L không đề nghị Tòa án giải quyết.

Kết quả xác minh chính quyền phường Hoà Mạc cung cấp: Chị Nguyễn Thị Hoàng L và anh Phạm Bá Chính H đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND thị trấn H, huyện D; nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng địa phương không nắm được; về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Phạm Nam Nh, sinh ngày 30/9/2008 và Phạm Ngọc D, sinh ngày 21/2/2014, hiện nay các con chung đang ở với chị L; về tài sản chung, công sức, công nợ: địa phương không nắm được.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là đúng và đề nghị xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hoàng L và anh Phạm Bá Chính H. Về con chung: giao chị Nguyễn Thị Hoàng L trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, công nợ, công sức: không giải quyết, về án phí: chị Nguyễn Thị Hoàng L phải chịu theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt chị Nguyễn Thị Hoàng L, anh Phạm Bá Chính H tuy nhiên đây là lần thứ hai anh H vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, chị L có đơn xin vắng mặt; HĐXX căn cứ điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L, anh H tại phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoàng L và anh Phạm Bá Chính H kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Uỷ ban nhân dân thị trấn H, huyện D (nay là UBND phường H, thị xã D), tỉnh Hà Nam đăng ký kết hôn vào ngày 30/10/2009 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.

Sau thời gian chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn là thực tế các bên đã thừa nhận, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hoà hợp, quá trình anh H chấp hành án thì chị L không thường xuyên lên thăm hỏi, động viên.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã tồn tại trong một thời gian mà không được cải thiện, nay chị L vẫn xin ly hôn, nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng vì vậy cần xử ly hôn giữa chị L và anh H là phù hợp thực tế và có căn cứ pháp luật.

Về con chung: Căn cứ lời khai của chị L và kết quả xác minh có cơ sở xác định vợ chồng có 02 con chung là Phạm Nam Nh, sinh ngày 30/9/2008 và Phạm Ngọc D, sinh ngày 21/2/2014. Xét nguyện vọng xin nuôi con chung của chị L, tham khảo nguyện vọng của con chung, nhận thấy hiện nay anh H đang phải chấp hành án tại trại giam nên không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì thế cần giao chị L trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung; về cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí ly hôn: chị Nguyễn Thị Hoàng L phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 28; 35; 39; 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

- Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

1. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hoàng L và anh Phạm Bá Chính H.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Hoàng L trực tiếp nuôi dưỡng các con chung Phạm Nam Nh, sinh ngày 30/9/2008 và Phạm Ngọc D, sinh ngày 21/2/2014 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được; anh Phạm Bá Chính H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hoàng L phải chịu 300.000đ. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị L đã nộp theo biên lai số 0001147 ngày 08/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên được đối trừ khi thi hành án.

Án xử công khai sơ thẩm; chị Nguyễn Thị Hoàng L, anh Phạm Bá Chính H vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ