- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thu D và Cao Văn H "ly hôn""
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị Trần Thị Thu D đối với anh Cao Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-5-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Hải Đường;
2. Ông Bành Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Lâm Phượng Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 562/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu D, sinh năm 1988, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Cao Văn H, sinh năm 1986, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: ấp T, xã M, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 12 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Thu D trình bày:
Chị và anh H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2009, không có tổ chức lễ cưới. Đến năm 2013, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã M, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bên nhà anh H. Đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân anh H không chăm lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh H không thay đổi. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh H.
Về con chung: có 02 con chung tên Cao Hoàng P, sinh ngày 01-01-2011 và Cao Ngọc V, sinh ngày 06-11-2017. Nay ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con tên V, đồng ý giao con tên P cho anh H nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Cao Văn H: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình, có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị D; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, được xem như từ bỏ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Thu D đối với anh Cao Văn H; về con chung: giao cháu Cao Ngọc V, sinh ngày 06-11-2017 cho chị D nuôi dưỡng, giao cháu Cao Hoàng P, sinh ngày 01-01-2011 cho anh H nuôi dưỡng; chị D và anh H không ai phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết; về án phí: Chị D phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về thủ tục tố tụng:
1.1 Chị Trần Thị Thu D khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Cao Văn H, anh H có địa chỉ cư trú tại ấp T, xã M, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
1.2 Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị D, anh H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu D và anh Cao Văn H tự nguyện chung sống từ năm 2009, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã M, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn từ năm 2022 cho đến nay, dẫn đến chị D không còn tình cảm và yêu cầu ly hôn với anh H. Về phía anh H tuy đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa mà không có lý do, thể hiện việc anh H từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình cũng như không mong muốn đoàn tụ với chị D.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D đối với anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: có 02 con chung tên Cao Hoàng P, sinh ngày 01-01-2011 và Cao Ngọc V, sinh ngày 06-11-2017. Chị D yêu cầu được nuôi dưỡng cháu V, giao cháu P cho anh H nuôi dưỡng. Nhận thấy, cháu V là con gái, hiện sinh sống ổn định cùng chị D; tại biên bản ghi nhận ý kiến thì cháu P có nguyện vọng sống cùng với anh H. Do đó, cần giao cháu V cho chị D và giao cháu P cho anh H nuôi dưỡng là có cơ sở. Chị D và anh H không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị D phải chịu theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị Trần Thị Thu D đối với anh Cao Văn H.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thu D được ly hôn với anh Cao Văn H.
Về con chung: giao chị D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Cao Ngọc V, sinh ngày 06-11-2017; giao anh H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Cao Hoàng P, sinh ngày 01-01-2011. Chị D và anh H không ai phải cấp dưỡng nuôi con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thu D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007172 ngày 26-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND H. Dương Minh Châu; - CCTHADS H. Dương Minh Châu; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ; tập án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Trúc Linh |