- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà Trương Thị Y và ông Nguyễn Trọng T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trương Thị Y được ly hôn ông Nguyễn Trọng T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày 15 – 7 – 2024 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Văn Ngọc.
- Bà Trần Thị Minh Hợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuỳ Dung - Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 112/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Y. Sinh năm 199x. Địa chỉ: xóm A, xã ĐS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng T. Sinh năm 198x. Hộ khẩu thường trú: xóm B, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Đồng Sơn – Cục C10 – Bộ công an. Vắng mặt tại phiên toà (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Y và ông Nguyễn Trọng T (Sinh năm 198x. Đăng ký hộ khẩu tại xóm B, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An) làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 01/02/201x tại Ủy ban nhân dân xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2013. Từ năm 2013 đến năm 2018 sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Năm 2019 ông Nguyễn Trọng T bị bắt giam vì có hành vi hiếp dâm trẻ em bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 15 (Mười lăm) năm tù và hiện nay đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Đồng Sơn thuộc tỉnh Quảng Bình. Đến nay bà Trương Thị Y thấy không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà Trương Thị Y được ly hôn ông Nguyễn Trọng T.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Trương Thị Y và ông Nguyễn Trọng T có 02 (Hai) con chung là Nguyễn Trọng A – sinh ngày 22/8/201x, Nguyễn Thị TL – sinh ngày 13/02/201x. Ly hôn thì bà Trương Thị Y đề nghị Tòa án giao 02 (Hai) con chung cho bà Trương Thị Y được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Bà Trương Thị Y không yêu cầu ông Nguyễn Trọng T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn.
Theo bản tự khai ghi ngày 31/5/2024, bị đơn trình bày như sau: Ông Nguyễn Trọng T đồng ý với ý kiến trình bày của bà Trương Thị Y về mối quan hệ hôn nhân, thời gian kết hôn, con chung. Ông Nguyễn Trọng T thấy tình cảm vợ chồng đang còn và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để chăm lo hạnh phúc gia đình, nuôi dạy các con nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Y.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Do ông Nguyễn Trọng T không đồng ý ly hôn nên ông Nguyễn Trọng T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung, chia tài sản chung, nợ chung.
Tại phần tranh luận: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An trình bày ý kiến như sau: Từ khi thụ lý vụ án, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trương Thị Y được ly hôn ông Nguyễn Trọng T.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Trọng A – sinh ngày 22/8/201x, Nguyễn Thị TL – sinh ngày 13/02/201x cho bà Trương Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Bà Trương Thị Y không yêu cầu ông Nguyễn Trọng T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn nên không xem xét.
- Về án phí: Buộc bà Trương Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là ông Nguyễn Trọng T có hộ khẩu thường trú tại xóm 02, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Bà Trương Thị Y có đơn khởi kiện với yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Trọng T và đề nghị giải quyết việc nuôi con chung, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn. Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã có ý kiến trình bày đầy đủ, việc vắng mặt của bị đơn tại phiên toà không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ ý kiến của Ủy ban nhân dân xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An trình bày tại Biên bản xác minh ngày 14/5/2024 và căn cứ ý kiến trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xác định bà Trương Thị Y và ông Nguyễn Trọng T làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/02/201x; việc kết hôn giữa hai người là trên tinh thần tự nguyện, không bị ai ép buộc do đó hôn nhân giữa bà Trương Thị Y và ông Nguyễn Trọng T là hợp pháp.
Ông Nguyễn Trọng T cho rằng tình cảm vợ chồng đang còn và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để chăm lo cho hạnh phúc gia đình, cùng nhau nuôi dạy các con nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng từ năm 2019 đến nay, ông Nguyễn Trọng T đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Đồng Sơn nên không thể chăm lo cho cuộc sống gia đình và các con; trong khi đó bà Trương Thị Y kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn, điều đó cho thấy bà Trương Thị Y không còn tình cảm vợ chồng với ông Nguyễn Trọng T, vì vậy căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Y và giải quyết cho bà Trương Thị Y được ly hôn ông Nguyễn Trọng T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Trương Thị Y và ông Nguyễn Trọng T có 02 (Hai) con chung là Nguyễn Trọng A – sinh ngày 22/8/201x, Nguyễn Thị TL – sinh ngày 13/02/201x. Hội đồng xét xử thấy rằng ông Nguyễn Trọng T đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Đồng Sơn nên không thể chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Trong khi đó các con từ trước đến nay đang sinh sống ổn định với bà Trương Thị Y. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần giao 02 (Hai) con chung cho bà Trương Thị Y được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Bà Trương Thị Y không yêu cầu ông Nguyễn Trọng T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Trương Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Y.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trương Thị Y được ly hôn ông Nguyễn Trọng T.
2. Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là Nguyễn Trọng A sinh ngày 22/8/201x, Nguyễn Thị TL – sinh ngày 13/02/201x cho bà Trương Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Bà Trương Thị Y phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do bà Trương Thị Y đã nạp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009484 ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Đô Lương; - Chi cục THADS huyện Đô Lương; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - UBND xã Tràng Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Hà |