- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "CHỊ D LY HÔN ANH Đ"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22-8-2024 V/v không công nhận quan hệ vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Tâm.
Ông Nguyễn Văn Giáp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân là Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trương Thị D, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Trần Văn Đ, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 7 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Trương Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào tháng 03 năm 1991, chị Trương Thị D và anh Trần Văn Đ tự nguyện sống chung và có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, nhưng từ đó cho đến nay chị D và anh Đ không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi chung sống chị D và anh Đ chung sống hạnh phúc đến tháng 03 năm 2024 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên chị D và anh Đ sống không còn hạnh phúc và sống ly thân từ tháng 03 năm 2024 cho đến nay.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị D và anh Đ có 01 người con chung tên Trần Thị Anh T, sinh ngày 26/3/1993, hiện nay Anh Thư đã thành niên, không mắc bệnh tật gì.
Về tài sản chung, nợ chung: Trong thời gian chung sống chị D và anh Đ không có tài sản chung, không có nợ chung.
Nay chị D yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Chị D yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ giữa chị D và anh Đ là quan hệ vợ chồng.
Về con chung: Do con chung tên Trần Thị Anh T, sinh ngày 26/3/1993, đã thành niên, không mắc bệnh tật gì, nên chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý vụ án số: 106/TB-TLVA ngày 08 tháng 7 năm 2024, tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Trần Văn Đ, nhưng anh Đ không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị D. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Đ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đ vắng mặt không có lý do, chị D có đơn yêu cầu Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và cũng không có lời khai của anh Đ trong hồ sơ vụ án.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án, xét thấy nguyên đơn, bị đơn không có đăng ký kết hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9; Điều 14 và Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận quan hệ giữa chị Trương Thị D và anh Trần Văn Đ là quan hệ vợ chồng.
- Về con chung: Con chung của nguyên đơn, bị đơn đã thành niên, không mắc bệnh tật gì, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị D có đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn và thẩm quyền giải quyết: Chị Trương Thị D và anh Trần Văn Đ cùng cư trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Chị D có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn. Do chị D và anh Đ không có đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng. Chị D đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho chị D nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và chị D đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định. Như vậy, việc Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng thụ lý đơn khởi kiện của chị Trương Thị D là đúng thẩm quyền và đúng theo trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Trần Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai và vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Văn Đ.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị D, sinh năm 1971 và anh Trần Văn Đ, sinh năm 1971 tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng từ tháng 3 năm 1991 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống, do bất đồng quan điểm sống nên anh, chị không còn sống chung với nhau từ tháng 03 năm 2024 cho đến nay. Do tình cảm không còn nên chị D đã làm đơn khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình, quan hệ giữa chị D và anh Đ không phải là quan hệ vợ chồng.
Về con chung: Chị D và anh Đ có 01 người con chung tên Trần Thị Anh T, sinh ngày 26/3/1993, đã thành niên, không mắc bệnh tật gì, chị D và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Trương Thị D là người có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nên căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị D phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng trong vụ án ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trương Thị D và anh Trần Văn Đ.
2. Về con chung: Con chung tên Trần Thị Anh T, sinh ngày 26/3/1993 đã thành niên, không mắc bệnh tật gì, chị D và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Chị Trương Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004443 ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị Trương Thị D đã nộp xong án phí.
5. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Cù Lao Dung;
Đã ký
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung;
- TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV & THA);
- Lưu hồ sơ;
- Lưu Tòa án.
Đặng Phước Tuấn
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Cù Lao Dung; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung; - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV & THA); - Lưu hồ sơ; - Lưu Tòa án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thành Tâm Nguyễn Văn Giáp | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Phước Tuấn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Phước Tuấn |