- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị C yêu cầu ly hôn với ông Hoàng Văn B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị C được ly hôn với ông Hoàng Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày 06-6-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Pho
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hoa
Bà Trần Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 45/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1969
Địa chỉ: Tổ B, ấp Đ, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn B, sinh năm: 1964
Địa chỉ: Tổ B, ấp Đ, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
(Bà C có đơn xin xét xử vắng mặt, ông B vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các văn bản làm việc tại tòa nguyên đơn Bà Nguyễn Thị C trình bày:
Bà Nguyễn Thị C và ông Hoàng Văn B qua thời gian quen biết, tìm hiểu nhau đã tiến đến hôn nhân, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, chung sống với nhau từ năm 1987, đăng ký kết hôn lại vào ngày 19/6/2007 tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hôn nhân cũng như trong việc chăm sóc con cái, không tôn trọng nhau. Nay bà C yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà C yêu cầu ly hôn với ông B.
Về con chung: Trong thời gian sống chung giữa bà C và ông B có 02 người con chung là Hoàng Thị Thu T, sinh năm 1988; Hoàng Anh V, sinh năm 1991. Hiện các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết trong vụ án:
Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tố tụng nên làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà C, Tòa án triệu tập ông B để làm việc, ông B không đến Tòa làm việc. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông B ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đựơc nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C. Về con chung: Các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị C và ông Hoàng Văn B sống chung với nhau có đăng ký kết hôn, nay bà C xin ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; nơi cư trú của ông Hoàng Văn B là xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử là đúng theo quy định tại các Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C và ông Hoàng Văn B sống chung với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện từ năm 1987, có đăng ký kết hôn lại vào ngày 19/6/2007 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong quá trình chung sống do phát sinh mâu thuẫn nên bà C và ông B đã ly thân nhau từ tháng 01/2023 cho đến nay. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của Bà C, Tòa án triệu tập ông Hoàng Văn B để làm việc ông B không đến, Tòa án thông báo hòa giải về quan hệ hôn nhân nhưng ông B không đến để Tòa án hòa giải, điều này chứng tỏ ông B không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tòa án đã tiến hành xác minh thực tế về tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông B tại địa phương nơi ông B cư trú, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Kết quả xác minh cho thấy tình trạng hôn nhân giữa ông Hoàng Văn B và bà Nguyễn Thị C đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và hiện nay thì bà C và ông B đã ly thân với nhau.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông B ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.
Về con chung: Trong quá trình chung sống thì bà C và ông B có 02 người con chung là Hoàng Thị Thu T, sinh năm 1988; Hoàng Anh V, sinh năm 1991. Hiện các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà C phải nộp 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị C được ly hôn với ông Hoàng Văn B.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị C và ông Hoàng Văn B có 02 người con chung là Hoàng Thị Thu T, sinh năm 1988; Hoàng Anh V, sinh năm 1991. Hiện các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị C nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà bà C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai số 0001813 ngày 22/01/2024. Như vậy bà Nguyễn Thị C đã nộp xong án phí.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06-6-2024). Bà Nguyễn Thị C, ông Hoàng Văn B vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
| - TA.tỉnh Bà Rịa VũngTàu; -VKSND H. Châu Đức; -Chi cục THA Dân sự H.Châu Đức; -Các đương sự; -UBND xã Bình Ba, huyện Châu Đức; -Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Pho |