vanban.org

Bản án 35/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị X được ly hôn ông Lê Trọng O.

[2]. Về con chung: Cháu Lê Thị Minh T và cháu Lê Tiến T1 đã thành niên bà X, ông O không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [3]. Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Bà X, ông O không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án tranh chấp về HNGĐ giữa Nguyên đơn bà Trần Thị T và bị đơn ông Lê Trọng O"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị X được ly hôn ông Lê Trọng O.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM KHÊ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17 tháng 7 năm 2024
V/v: “Tranh chấp về
Hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Tú và bà Nguyễn Thị Sâm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Phú - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 105/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST – HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị X, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Khu G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Ông Lê Trọng O, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Khu G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

(Bà X có đơn xin giải quyết vắng mặt, ông O vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1, Tại đơn khởi kiện ngày 08/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị X trình bày: Bà và ông Lê Trọng O kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 1987 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không bảo ban được nhau nên vợ chồng xảy ra cãi vã nhau. Năm 2018 anh O có làm đơn định xin ly hôn bà nhưng chưa nộp ra tòa án. Vợ tiếp tục chung sống đến năm 2021 thì anh mâu thuẫn căng thẳng, anh O có đánh bà phải đi nằm viện. Đến 3/3/2024 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên bà đã bỏ về nhà em gái bà ở thị trấn C ở. Vợ chồng ly thân năm 2021 đến nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin được ly hôn anh O.

Về con chung: Vợ chồng bà có hai con chung là cháu Lê Thị Minh T, sinh ngày 06/01/1987 và cháu Lê Tiến T1, sinh ngày 30/9/1989. Hiện nay các con chung đều đã thành niên nên bà không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức: Bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2, P bị đơn ông Lê Trọng O, tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án trình bày: Về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống của vợ chồng đúng như chị X trình bày. Trước khi kết hôn vợ chồng được tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có mâu thuẫn về ý ăn ý ở trong cuộc sống vợ chồng nên có nói nhau. Bà X có thách ông làm đơn ly hôn nên ông có làm đơn nhưng ông chưa đưa bà X và cũng chưa nộp ra tòa án. Tuy nhiên vợ chồng vẫn chung sống đến năm 2021 thì vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống vợ chồng, khi mâu thuẫn bà X có thách ông đánh nên tôi có tát bà X. Vợ chồng ly thân từ năm 2021 đến nay, tuy ly thân nhưng vợ chồng vẫn sống chung một nhà. Đến đầu tháng 3/2024 thì mâu thuẫn căng thẳng hơn, bà X đã về nhà em gái bà X ở, từ đó không quay về chung sống cùng ông nữa. Nay bà X xin ly hôn ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng ông có hai con chung là cháu Lê Thị Minh T, sinh ngày 06/01/1987 và cháu Lê Tiến T1, sinh ngày 30/9/1989. Hiện nay các con chung đều đã thành niên nên ông không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức: Ông O không yêu cầu Tòa án giải quyết

3, Qua x¸c minh t¹i ñy ban nh©n d©n thị trấn C ngµy 29/5/2024 được đại diện chính quyền địa phương cung cấp: Bà X và ông O không đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C mà đăng ký kết hôn năm 1987 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn bà X và ông O về chung sống cùng bố mẹ ông O tại xã T, huyện C. Đến năm 1993 thì bà X, ông O chuyển về ở hẳn tại thị trấn C, huyện C. Quá trình chung sống bà X, ông O hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông bà tự mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống vợ chồng. Đến tháng 3/2024 mâu thuẫn giữa ông bà trở nên trầm trọng thì bà X chuyển về ở nhờ nhà em gái bà X. Từ đó không quay về chung sống cùng ông O nữa, vợ chồng ông bà không ai còn quan tâm đến ai. Bà X và ông O có hai con chung là Lê Thị Minh T, sinh ngày 06/01/1987 và cháu Lê Tiến T1, sinh ngày 30/9/1989, các con chung đều đã thành niên. Nay bà X xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

T¹i phiªn toµ kiÓm s¸t viªn ph¸t biÓu ý kiÕn vÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña ThÈm ph¸n, H§XX vµ viÖc chÊp hµnh ph¸p luËt của nguyên đơn tõ khi thô lý vô ¸n cho ®Õn trước thêi ®iÓm H§XX nghÞ ¸n ®Òu thùc hiÖn ®óng theo quy ®Þnh ph¸p luËt kh«ng cã vi ph¹m g×, bị đơn vi phạm về nghĩa vụ quy đinh tại khoản 15, 16 Điều 70, Điều 72 Bé luËt tè tông d©n sù vµ ph¸t biÓu ý kiÕn vÒ quan ®iÓm gi¶i quyÕt vô ¸n. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; kho¶n 4 ®iÒu 147, điểm b khoản 2, Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bé luËt tè tông d©n sù; Điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị X được ly hôn ông Lê Trọng O.

Về con chung: Cháu Lê Thị Minh T và cháu Lê Tiến T1 đã thành niên bà X, ông O không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Bà X, ông O không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Trần Thị X phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ¸n phÝ ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng dân sự:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1, điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Lê Trọng O có hộ khẩu thường trú tại khu G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

[1.3]. Về sự vắng mặt của bị đơn: Toµ ¸n ®· gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông O vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa mà không có lý do. C¨n cø điểm b khoản 2, ®iÒu 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, T2 ¸n nh©n d©n huyÖn Cẩm Khê tiÕn hµnh xÐt xö v¾ng mÆt ông O.

. Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa bà X và ông O là hoàn toàn hợp pháp được UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ cho ®¨ng ký kÕt h«n năm 1987 nhưng thùc sù t×nh c¶m vî chång gi÷a ông bà ®· cã vÕt r¹n nøt, bà X cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không bảo ban được nhau nên vợ chồng xảy ra cãi vã nhau, đến năm 2021 thì mâu thuẫn căng thẳng, ông O có đánh bà phải đi nằm viện. Phía ông O cho rằng vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có mâu thuẫn về ý ăn ý ở trong cuộc sống vợ chồng nên có nói nhau. Tuy nhiên vợ chồng vẫn chung sống đến năm 2021 thì vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống vợ chồng, khi mâu thuẫn bà X có thách ông đánh nên ông có tát bà X. Bà X và ông O đều xác nhận vợ chồng ly thân từ năm 2021 đến nay. Đến đầu tháng 3/2024 thì mâu thuẫn căng thẳng hơn, bà X đã về nhà em gái bà X ở, từ đó không quay về chung sống cùng ông O nữa. Nay bà X kiên quyết xin ly hôn, ông O không đồng ý ly hôn. Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê đã tiến hành xác minh về quan hệ hôn nhân của bà X và ông O được đại diện chính quyền địa phương cung cấp quá trình chung sống ông bà có hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông bà tự mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống vợ chồng. Đến tháng 3/2024 mâu thuẫn giữa ông bà trở nên trầm trọng thì bà X chuyển về ở nhờ nhà em gái bà X. Từ đó không quay về chung sống cùng ông O nữa, vợ chồng ông bà không ai còn quan tâm đến ai. XÐt thÊy cuéc h«n nh©n gi÷a bà X và ông O đã m©u thuÉn rÊt trÇm träng, ®êi sèng chung không còn, môc ®Ých h«n nh©n kh«ng ®¹t ® îc, nÕu kÐo dµi chØ g©y ®au khæ cho c¶ hai bªn, lµm cho ông bà sèng kh«ng ®em l¹i h¹nh phóc, kh«ng cßn t×nh yªu thư¬ng. V× vËy cÇn xö cho bà X được ly h«n ông O lµ phï hîp víi khoản 1 ®iÒu 56 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh.

Về con chung: Bà X và ông O cã 02 con chung lµ cháu Lê Thị Minh T, sinh ngày 06/01/1987 và cháu Lê Tiến T1, sinh ngày 30/9/1989. Cả hai con chung đều đã thành niên, bà X và ông O không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Bà X và ông O không yêu cầu giải quyết nªn Hội đồng xét xử kh«ng xem xÐt giải quyết.

. Về án phí: Bà X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39; kho¶n 4 ®iÒu 147 điểm b khoản 2, Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bé luËt tè tông d©n sù; Điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị X được ly hôn ông Lê Trọng O.

[2]. Về con chung: Cháu Lê Thị Minh T và cháu Lê Tiến T1 đã thành niên bà X, ông O không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]. Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Bà X, ông O không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Bà Trần Thị X phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ¸n phÝ ly hôn sơ thẩm. X¸c nhËn bà X ®· nép 300.000 ®ång tiÒn t¹m øng ¸n phÝ theo biªn lai sè 0004818 ngày 19/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm khê, tỉnh Phú Thọ.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự (v¾ng mÆt) cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhËn b¶n ¸n hoÆc b¶n ¸n ®ưîc niªm yÕt ®Ó ®Ò nghÞ Toµ ¸n nh©n d©n tØnh Phó Thä xÐt xö theo tr×nh tù phóc thÈm./.

Cỡ chữ