vanban.org

Bản án 35/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: 1. Giao cháu Nguyễn Kim A, sinh ngày 13 tháng 12 năm 2015 cho chị Vũ Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Vũ Thị D không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị D - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST
Ngày 11-9-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Đạt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thắng

Ông Vũ Văn Thôn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gấm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn T - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 736/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 792/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị D, nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, nơi ĐKTT: Thôn Q, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2 thành phố Hải Phòng, địa chỉ: Xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vũ Thị D trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Đức, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Trong quá trình chung sống, chị và anh T thường xảy ra mâu thuẫn do anh T chơi bời, nghiện ma tuý, thường xuyên tụ tập bạn bè, không chịu làm ăn; thiếu sự quan tâm đến gia đình, vợ, con và còn đánh đập, chửi bới chị. Chị đã khuyên nhiều lần nhưng anh T không thay đổi. Do mâu thuẫn nên chị và anh T sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Đến nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn anh T. Chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 13-12-2015; chị nhận nuôi con, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh T trình bày: Anh và chị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Đức. Trong quá trình chung sống, do bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau, không tôn trọng nhau nên anh và chị D xảy ra mâu thuẫn, xúc phạm nhau và gia đình nhau; thường xuyên cãi vã, căng thẳng; cuộc sống chung còn không hạnh phúc. Hơn một năm nay, anh và chi D đã ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay chị D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh chỉ đồng ý ly hôn với điều kiện chị D phải đưa cho anh số tiền 90.000.000 đồng. Anh và chị D có 01 con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 13-12-2015; anh đồng ý giao con chung cho chị D nuôi dưỡng; việc anh cấp dưỡng nuôi con tuỳ vào điều kiện kinh tế của anh. Về tài sản chung, anh và chị D có tài sản chung là 450.000.000 đồng, anh yêu cầu chị D phải chia cho anh số tiền 90.000.000 đồng (như đã nêu trên).

Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được thể hiện: Trong quá trình chung sống, chị D và anh T thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã; cuộc sống không hòa hợp, hạnh phúc. Anh T nghiện ma túy từ năm 2000, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 36/2024/QĐ-TA ngày 05-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện An Lão; đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2 thành phố Hải Phòng. Trước khi Tòa án thụ lý vụ án này, chị D và anh T đã sống ly thân. Chị D và anh Chung có 01 con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 13-12-2015, đanh được chị D nuôi dưỡng. Tòa án đã thông báo yêu cầu anh T giao nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh tài sản chung và nộp tiền tạm ứng án phí để thụ lý giải quyết yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn nhưng anh T không chấp hành.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D; giao cháu Kim Anh cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng; chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên không giải quyết. Đối với yêu cầu chia tài sản khi ly hôn, do anh T không cung cấp tài liệu, chứng cứ, không nộp tiền tạm ứng án phí nên đề nghị Tòa án không giải quyết.

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc chị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của đương sự, kết quả xác minh, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án có quan hệ tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung, bị đơn là anh Nguyễn Văn T, cư trú tại Thôn Q, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là chị Vũ Thị D vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt tại phiên toà mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh T tự nguyện kết hôn, đủ độ tuổi kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Đức theo Giấy chứng nhận kết hôn số 31/2013 ngày 17-4-2015 nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Cuộc sống chung giữa chị D và anh T từ lâu đã không còn hoà thuận, hạnh phúc; thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Anh T thường sử dụng ma túy và đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2 thành phố Hải Phòng. Chị D và anh T đã không còn tình cảm với nhau; không thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ và chung sống với nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài. Vì vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị D và anh T có 01 con chung là Nguyễn Kim A, sinh ngày 13-12-2015. Hiện tại, anh T không đủ điều kiện nuôi con và đồng ý giao con chung cho chị D nuôi dưỡng. Cháu Kim Anh đang sống ổn định cùng chị D, được nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo và có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị D, giao cháu Kim Anh cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị D không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn nhưng không giao nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh, không nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu của Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề chia tài sản chung khi ly hôn trong vụ án này.

Về án phí: Chị D là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Vũ Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung:

2.1. Giao cháu Nguyễn Kim A, sinh ngày 13 tháng 12 năm 2015 cho chị Vũ Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Vũ Thị D không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

2.2. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vũ Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0007353 ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, chị Vũ Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ