- Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK Đàm Xuân T - NBK UBND huyện Đ"
- Căn cứ chính? Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy định cụ thể một s…; Điều 1 Quyết định số 46/2022/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung một số điều c…; Điều 32 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2024/HC-ST Ngày 27-9-2024 Về việc: Khiếu kiện quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hôi đông xét xử sơ thẩm gôm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Chương
Các Hôi thẩm nhân dân: Ông Trần Hồng Phong và ông Bùi Xuân Vấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Diễm My là Thư ky Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thâm công khai vụ án hành chính thụ ly số: 56/2024/TLST-HC ngày 07 tháng 6 năm 2024 về “Khiếu kiện quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HC ngày 12-8-2024; các Quyết định hoan phiên tòa số: 113/2024/QĐST-HC ngày 28-8-2024 và số: 117/2024/QĐST-HC ngày 12-9-2024, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Anh Đàm Xuân T, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn F, xa Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông - Văng mặt.
Người đai diện theo ủy quyên: Ông Đàm Văn T1; địa chỉ: Thôn F, xa Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Co mặt.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk Nông.
Người đai diện theo ủy quyên: Ông Trần Công D; chưc vụ: Pho Chu tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ - Co đơn xét xử văng mặt.
Người bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
- Ông Phạm Tuấn Đ, chưc vụ: Pho Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ, tỉnh Đăk Nông - Co mặt.
- Ông Trịnh Phú Y, chưc vụ: Pho Giám đốc Ban Quản ly dự án và Phát triển quỹ đất huyện Đ, tỉnh Đăk Nông - Co mặt.
- Ông Võ Công M, Nhân viên Ban Quản ly dự án và Phát triển quỹ đất huyện Đ, tỉnh Đăk Nông - Co mặt.
3. Người co quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân xa Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông.
Người đai diện theo pháp luât: Ông Võ Ngọc A; chưc vụ: Quyền Chu tịch Ủy ban nhân dân xa Đ - Co đơn xét xử văng mặt.
3.2. Chị Vũ Thị N, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Co đơn xin văng mặt.
NỘI DUNG VU ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đê ngày 25-3-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 127, tờ bản đồ số 54, diện tích 2.717m2 tọa lạc tại thôn A, xa Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông do ông Đàm Văn T1 khai phá năm 1998 và co làm nhà ở trên diện tích đất này. Năm 2000, ông T1 được cấp GCNQSDĐ. Năm 2004, anh T (con ruột ông T1) kết hôn, không co đất canh tác nên ông T1 đa tặng cho cho anh T toàn bộ diện tích đất này để ở và canh tác (anh T đa xây dựng nhà cấp 4 để ở). Năm 2019 thì ông T1 và anh T thực hiện thu tục tặng cho đúng quy định pháp luật và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp GCNQSDĐ số CS 558174 ngày 05-11-2019. Tuy nhiên, do làm nông nghiệp không đu sinh sống nên năm 2017 anh T đi làm ăn xa (làm tự do) để kiếm thêm tiền trang trải cuộc sống gia đình, nuôi 03 con nhỏ, vợ anh T (là chị N) vẫn tiếp tục canh tác trên diện tích đất này cho đến khi co thông báo thu hồi đất ngày 15-6-2022 thì chuyến đến ở tại thị trấn K (thuê nhà ở), sau đo khoảng 03-04 tháng cơ quan chưc năng tổ chưc kiểm đếm (lúc này không co ai ở nhà), chính quyền địa phương co mời ông T1 đại diện tham gia không yêu cầu anh T, chị N co mặt nên ông T1 đa tham gia kiểm đếm.
Sau đo, anh T nhận được Quyết định số: 2454/QĐ-UBND ngày 18-7-2023 cua Ủy ban nhân dân (viết tăt là UBND) huyện Đ thu hồi diện tích đất 2.408,6m2 cua gia đình anh T và Quyết định số: 2455/QĐ-UBND ngày 18-7-2023 cua UBND huyện Đ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (viết tăt là QĐ số 2455) kèm theo phương án chi tiết. Anh Đàm Xuân T không đồng y với QĐ số 2455 và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông huy một phần QĐ số 2455 về nội dung ở tiểu mục 1, 2, 3 mục I Phần trong quy hoạch Phần B Nhà cửa, vật kiến trúc STT 22 Phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tái định cư về tỷ lệ (%) 0,6 (nhà rẫy phục vụ sản xuất nông nghiệp, tính bằng 60% đơn giá nhà ở) và Phần D Chính sách hỗ trợ (anh T đồng y với tiểu mục 1, 2 phần D chỉ yêu cầu thêm hỗ trợ tái định cư); buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sửa đổi, bổ sung để tăng tỷ lệ (%) 0,6 thành 1,0 (vì đây là nhà ở, không phải nhà rẫy) và xem xét bố trí 01 lô tái định cư cho gia đình anh Đàm Xuân T với ly do: Thửa đất số 127, tờ bản đồ số 54, diện tích 2.717m2 và căn nhà co diện tích khoảng 180m2 trên đất là chỗ ở và canh tác duy nhất cua anh T trên địa bàn xa Đ cũng như trên địa bàn toàn tỉnh Đăk Nông.
2. Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Công D (người đai diện theo ủy quyên của người bị kiện) trình bày:
UBND huyện Đ phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với hộ anh T căn cư theo Giấy xác nhận ngày 07-4-2023 cua UBND xa Đ về việc xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời điểm xây dựng nhà ở, công trình khác, tình trạng sử dụng đất, nhà ở và nhân khâu cua hộ anh Đàm Xuân T khi Nhà nước thu hồi để thực hiện Dự án ĐTXD công trình khai thác mỏ Bauxit Nhân C - Đ (Khai trường năm thư 7 đến năm thư 8). Tại Giấy xác nhận ngày 07-4-2023 nêu trên ghi nhận: Hộ gia đình anh Đàm Xuân T và bà Vũ Thị N (vợ) đăng ky thường trú tại thôn F, xa Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, co 05 nhân khâu; tại thời điểm thu hồi cho đến thời điểm hiện tại thực tế gia đình không co mặt tại địa phương; về thông tin trên cơ sở dữ liệu địa chính cua địa phương thì gia đình anh T không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn xa Đ, tại thời điểm kiểm đếm ngày 24-8-2022 trên thửa đất co 01 căn nhà xây diện tích khoảng 180m2 không co người ở, UBND xa Đ xác nhận là nhà rẫy phục vụ sản xuất nông nghiệp. Căn cư Điều 28 cua Quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đăk Nông ban hành kèm theo Quyết định số: 03/2021/QĐ-UBND ngày 22-01-2021 cua UBND tỉnh Đ được sửa đổi bổ sung tại khoản 4 Điều 1 Quyết định số: 46/2022/QĐ-UBND ngày 28-11-2022 cua UBND tỉnh Đ thì gia đình anh T không đu điều kiện bố trí tái định cư. Còn đối với UBND xa Đ đa thực hiện trình tự, thu tục xác nhận hộ gia đình anh T không sinh sống trên căn nhà thu hồi (nhà rẫy để phục vụ sản xuất nông nghiệp) đúng với quy định tại Điều 35 Quyết định số: 03/2021/QĐ-UBND ngày 22-01-2021 cua UBND tỉnh Đ ban hành quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đăk Nông.
Do đo, UBND huyện Đ đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông bác yêu cầu khởi kiện cua anh T.
3. Quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Ngọc A (người đai diện theo pháp luât của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ) trình bày:
Ngày 15-6-2022, UBND huyện Đ ban hành Thông báo số 85/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án khai thác mỏ Bauxit Nhân cơ - Đăk Nông (Khai trường năm thư 7-8), địa điểm: Thôn A, xa Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Cùng ngày, UBND huyện Đ ban hành Thông báo số 131/TB-UBND về việc thu hồi 2.282,5m² đất cua hộ anh Đàm Xuân T để thực hiện dự án nêu trên.
Ngày 10-02-2023, UBND xa Đ ban hành Quyết định số 10/QĐ- UBND thành lập Hội đồng tư vấn xét duyệt nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và công trình vật kiến trúc găn liền với đất cua các hộ dân co đất bị thu hồi thuộc dự án Khai thác mỏ Bauxit Nhân C - Đăk Nông (sau đây viết tăt là Hội đồng tư vấn). Sau khi ban hành Quyết định, Hội đồng tư vấn đa tổ chưc đi kiểm tra các công trình vật kiến trúc găn liền với đất, liên quan đến các hộ dân bị giải toả, tại thời điểm kiểm tra chúng tôi ghi nhận tại hiện trường bằng hình ảnh và video các công trình vật kiến trúc cua các hộ dân nằm trong vùng dự án. UBND xa đa niêm yết Thông báo công khai số 04/TB-UBND ngày 08-3-2023 cua UBND xa về kết quả, dự thảo xác nhận Nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời điểm xây dựng nhà ở, công trình khác đối với các hộ dân, tại nhà V, thời gian niêm yết là 07 ngày làm việc, kể từ ngày 09-3-2023 đến ngày 17-3-2023, co sự chưng kiến cua người dân tại Thôn A và Trưởng thôn là ông Phạm Văn T2. Hết thời gian niêm yết UBND xa không nhận được y kiến đong gop, kiến nghị nào cua anh Đàm Xuân T. Hội đồng tư vấn đa tiến hành tiến hành xác mình thực thực tế, bỏ phiếu lấy y kiến về về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời điểm xây dựng nhà ở, tình trạng đất ở, nhà ở cua các hộ dân trong khu vực dự án, cụ thể:
Ngày 27-3-2023, Hội đồng tư vấn đa tổ chưc xác minh về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời điểm xây dựng nhà ở, tình trạng đất ở, nhà ở cua hộ anh Đàm Xuân T. Đoàn xác mình bao gồm thành viên Hội đồng tư vấn và đại diện 02 hộ dân co đất bị thu hồi trong vùng dự án là ông Nguyễn Hữu X và ông Võ Duy T3. Đoàn xác minh đa kết luận hộ gia đình hộ anh T không sinh sống trên căn nhà bị thu hồi. Theo GCNQSDĐ số CS 558174, do UBND huyện Đ' Lấp cấp cho ông Đảm Xuân T4 ngày 15-11-2019 đối với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 54 (nay bị thu hồi một phần trong dự án này) ghi địa chỉ thửa đất thuộc Thôn F, xa Đ, huyện Đ Lập là ghi là ghi theo địa giới hành chính cũ, do người sử dụng đất chưa đăng ky biến động về địa chỉ thửa đất sang Thôn A, xa Đ, huyện Đ. Thực chất diện tích đất anh T4 bị thu hồi thuộc Thôn A trong khi nơi đăng ky thường trú là Thôn 6 nên không cùng một địa chỉ và việc UBND xa xác nhận anh T4 không sinh sống trên đất là hoàn toàn chính xác. Cùng ngày 27-3-2023, Hội đồng tư vấn đa lập P lấy y kiến về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời điểm xây dựng nhà ở, tình trạng đất ở, nhà ở gồm các thành phần Hội đồng tư vấn và đại diện Ban tự quản thôn 13 (do ông Phạm Văn T2 tham gia) cùng với đại diện hai hộ dân. Theo Phiếu lấy y kiến này các thành phần tham gia đều xác nhận hộ gia đình anh Đàm Xuân T không sinh sống trên đất thu hồi.
Ngày 29-3-2023, Hội đồng tư vẫn tổ chưc bỏ phiếu kín lấy y kiến xác định hộ gia đình sống trực tiếp trên căn nhà bị thu hồi trong vùng dự án với sự co mặt cua 11 thành viên. Đối với hộ anh Đàm Xuân T kết quả kiểm phiếu xác định hộ anh T không sinh sống trong căn nhà bị giải tỏa.
Ngày 07-4-2023, UBND xa Đ ban hành Giấy xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời điểm xây dựng nhà ở, tỉnh trạng đất ở, nhà ở và nhân khâu cua hộ anh Đàm Xuân T. Về nội dung xác nhận hộ gia đình co sinh sống trên căn nhà bị thu hồi, UBND xa đa xác nhận hộ anh T không sinh sống trong căn nhà bị giải tỏa, nhà để phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Như vậy, về trình tự ban hành Giấy xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, nhà ở và nhân khâu cua hộ anh Đàm Xuân T để làm căn cư xét duyệt bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong dự án này, UBND xa Đ đa thực hiện đúng thâm quyền và đầy đu các thu tục, kết quả gia đình anh Đàm Xuân T không sinh sông trên thửa đất bị giải tỏa là hoàn toàn khách quan chính xác, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông giải quyết theo quy định cua pháp luật.
4. Quá trình giải quyết vụ án, chị Vũ Thị N trình bày: Chị N không co y kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện cua anh Đàm Xuân T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định cua pháp luật và xin văng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
5. Tại phiên tòa, người đại diện theo uy quyền cua người khởi kiện giữ nguyên nội dung khởi kiện; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cua người bị kiện trình bày: trình tự, thu tục ban hành QĐ số 2455 thực hiện đúng quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu: Thâm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng; các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ cua mình đúng quy định. Căn cư tài liệu, chưng cư thu thập tại hồ sơ vụ án và phiên tòa xét xử công khai, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 cua Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện cua người khởi kiện.
NHÂN ĐINH CỦA TOA ÁN:
Căn cư vào tài liệu, chưng cư đa được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, y kiến cua Kiểm sát viên và các quy định cua pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 18-7-2023, UBND huyện Đ ban hành QĐ số 2455 cho hộ anh T. Ngày 25-3-2024, anh T khởi kiện vụ án là còn thời hiệu theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2]. Về thâm quyền: Vụ án thuộc thâm quyền giải quyết cua Toà án nhân dân tỉnh Đăk Nông theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[2]. Về nội dung khởi kiện cua người khởi kiện:
[2.1]. Ngày 26-9-2016, ông Đàm Văn T1 và bà Phan Thị N1 được cấp GCNQSDĐ số CD 605037 đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 54, địa chỉ thôn F, xa Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (bút lục số 123, 124). Ngày 24-7-2019, ông bà làm thu tục tách thành 03 thửa đất và tặng cho thửa đất số 127, tờ bản đồ số 54 cho anh Đàm Xuân T. Ngày 05-11-2019, anh T được cấp GCNQSDĐ số CS 558174 đối với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 54, địa chỉ thôn F, xa Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (bút lục số 03).
[2.2]. Tại Phiếu xác nhận thông tin về cư trú số: 277/XN ngày 14-3-2023 cua Công an xa Đ (bút lục số 100) xác nhận gia đình anh T gồm anh T, chị vũ Thị N (vợ) và 03 con co đăng ky thường trú tại thôn F, xa Đ và Sổ hộ khâu (bút lục số 14a) thể hiện gia đình anh T đăng ky hộ khâu thường trú tại thôn F, xa Đ từ ngày 20-01-2014.
[2.3]. Như vậy, gia đình anh Tân sinh S tại căn nhà trên thửa đất bị thu hồi đa co đăng ky thường trú tại thôn F, xa Đ là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 20 cua Luật Cư trú: “Công dân có chỗ ở hợp pháp thuôc quyên sở hữu của mình thì được đăng ký thường trú tai chỗ ở hợp pháp đó”. Vì vậy, khi địa giới hành chính co thay đổi, tại thời điểm thu hồi đất thì thửa đất thuộc thôn A, xa Đ nhưng anh T vẫn chưa thực hiện đăng ky thay đổi về địa chỉ thửa đất và nơi thường trú. Tuy nhiên, điều này không làm ảnh hưởng đến việc xác định nơi ở trên địa bàn xa Đ đối với gia đình anh T (vì căn nhà này vẫn là chỗ ở duy nhất trên địa bàn xa Đ cua gia đình anh T, theo mục 6 Giấy xác nhận ngày 07-4-2023 cua Ủy ban nhân dân xa Đ).
[2.4]. Bên cạnh đo, anh T được tặng cho diện tích đất 2.717m2, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm: Diện tích đất này đối với gia đình làm nông nghiệp là quá ít để canh tác nên việc anh T và chị N đi làm thêm công việc khác là sự tự do làm việc (P1 không cấm); đồng thời, anh T và chị N đều đi làm thuê, không co nhà ở, chỉ ở trọ.
[2.5]. Vì vậy, co căn cư xác định căn nhà trên diện tích đất bị thu hồi là nhà ở trên đất nông nghiệp duy nhất trên địa bàn xa Đ đối với gia đình anh T (căn cư các tài liệu, chưng cư thu thập được co trong hồ sơ vụ án thì đây là nhà xây kiên cố, mong đá hộc, nền lát gạch men, ốp chân tường gạch men, co 01 phòng khách, 01 phòng ngu, 01 phòng bếp và 01 nhà vệ sinh khép kín, cửa kính…). Song, Giấy xác nhận ngày 07-4-2023 cua UBND xa Đ, xác nhận: Hộ gia đình anh Đàm Xuân T và bà Vũ Thị N (vợ) đăng ky thường trú tại thôn F, xa Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, co 05 nhân khâu; tại thời điểm thu hồi cho đến thời điểm hiện tại thực tế gia đình không co mặt tại địa phương; về thông tin trên cơ sở dữ liệu địa chính cua địa phương thì gia đình anh T không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn xa Đ, tại thời điểm kiểm đếm ngày 24-8-2022 trên thửa đất co 01 căn nhà xây diện tích khoảng 180m2 không co người ở, UBND xa Đ xác nhận là nhà rẫy phục vụ sản xuất nông nghiệp là không đúng quy định pháp luật, không phù hợp với thực tế cua người dân lao động.
[2.6]. Do đo, căn cư vào khoản 4 Điều 1 Quyết định số: 46/2022/QĐ-UBND ngày 28-11-2022 cua UBND tỉnh Đ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều cua Quyết định số: 03/2021/QĐ-UBND ngày 22-01-2021 cua Ủy ban nhân dân tỉnh Đ quy định: “ Hô gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liên với nhà ở thuôc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điêu kiện được bồi thường vê đất (kể cả trường hợp xây dựng gắn liên đất nông nghiệp, đất nhân khoán, đất nhân liên kết của các công ty nông, lâm nghiệp, đất nhân chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế chưa làm thủ tục theo quy định), nếu tai thời điểm có chủ trương, kế hoach thu hồi đất của cấp có thẩm quyên không có nhà ở, đất ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được giao 01 (môt) thửa đất ở tai nơi tái định cư có thu tiên sử dụng đất.”, Hội đồng xét xử co căn cư chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện cua anh T về việc huy một phần QĐ số 2455 về nội dung ở tiểu mục 1, 2, 3 mục I Phần trong quy hoạch Phần B Nhà cửa, vật kiến trúc STT 22 Phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tái định cư về tỷ lệ (%) 0,6 (nhà rẫy phục vụ sản xuất nông nghiệp, tính bằng 60% đơn giá nhà ở) và Phần D Chính sách hỗ trợ (anh T đồng y với tiểu mục 1, 2 phần D chỉ yêu cầu thêm hỗ trợ tái định cư); buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk Nông thực hiện nhiệm vụ công vụ theo đúng quy định pháp luật.
[3]. Về án phí hành chính sơ thâm: Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk Nông phải chịu án phí hành chính sơ thâm theo quy định cua pháp luật. Anh Đàm Xuân T được nhận lại tiền tạm ưng án phí sơ thâm đa nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐINH:
1. Căn cư vào khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; áp dụng Quyết định số: 03/2021/QĐ-UBND ngày 22-01-2021 cua Ủy ban nhân dân tỉnh Đ; khoản 4 Điều 1 Quyết định số: 46/2022/QĐ-UBND ngày 28-11-2022 cua Ủy ban nhân dân tỉnh Đ: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện cua anh Đàm Xuân T:
1.1.Huy một phần Quyết định số: 2455/QĐ-UBND ngày 18-7-2023 cua Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk Nông về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư kèm theo phương án chi tiết, cụ thể: Tiểu mục 1, 2, 3 mục I Phần trong quy hoạch Phần B Nhà cửa, vật kiến trúc STT 22 Phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tái định cư về tỷ lệ (%) 0,6 (nhà rẫy phục vụ sản xuất nông nghiệp, tính bằng 60% đơn giá nhà ở) và Phần D Chính sách hỗ trợ (anh Đàm Xuân T đồng y với tiểu mục 1, 2 phần D chỉ yêu cầu thêm hỗ trợ tái định cư).
1.2. Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk Nông thực hiện nhiệm vụ công vụ theo đúng quy định cua pháp luật.
2. Về án phí sơ thâm: Căn cư khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; áp dụng khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 cua Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk Nông phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thâm.
- Trả lại cho anh Đàm Xuân T 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ưng án phí sơ thâm đa nộp theo Biên lai số 0002190 ngày 31-5-2024 cua Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự co mặt tại phiên toà co quyền kháng cáo bản án sơ thâm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự văng mặt tại phiên toà co quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - UBND tỉnh Đăk Nông; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - Cục THADS tỉnh Đăk Nông; - Các đương sự; - Lưu: THC; Tổ HCTP; HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Hồng Chương |