vanban.org

Bản án 35/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hứa Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Hứa Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hứa Văn C phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hứa Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ GIA NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HSST
Ngày 10-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Phương và bà H’ Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2023/TLST-HS, ngày 09 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 3 năm 2023, các Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2023/HSST-QĐ, ngày 14/3/2023 và số: 17/2023/HSST-QĐ, ngày 14/4/2023 đối với bị cáo:

Hứa Văn C, sinh năm: 1997, tại tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Thôn 4, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn T (đã chết) và bà Hoàng Thị S (sinh năm 1978); Nhân thân: Ngày 17/01/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 07/2020/HS-ST; ngày 07/6/2020 chấp hành xong hình phạt (đã được xóa án tích). Bị bắt tạm giữ từ ngày 24/11/2022 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố G, tỉnh Đắk Nông (có mặt).

Bị hại: Anh Hoàng Văn N, sinh năm 2005; địa chỉ: Bon B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn 3, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h00’ ngày 23/11/2022, Hứa Văn C đón xe khách đi từ huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đến thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Sau khi xuống xe, C gọi điện cho Trịnh Phương N (sinh năm 1988) đến đón về phòng trọ của N thuê tại tổ 02, phường N, thành phố G để tắm rửa. Đến khoảng 14h40’ cùng ngày, C đi bộ từ phòng trọ của N ra Đường 3 tháng 2 (thuộc tổ 02, phường N) thì phát hiện 01 xe mô tô loại Sirius 50CC, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 48AF-012.63 của anh Hoàng Văn N dựng trước cửa phòng trọ, không có người trông coi nên C nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. C đi đến rút dây khóa điện của xe mô tô và đấu nối khởi động rồi điều khiển xe đi vào hướng xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi C điện thoại rủ N đi vào xã Đ để mua ma túy cùng sử dụng thì N đồng ý. Khi đến cơ sở thu mua phế liệu Đ do anh Nguyễn Minh Đ làm chủ, C đã thỏa thuận bán xe mô tô vừa trộm cắp cho anh Đ với số tiền 450.000 đồng. Sau đó, C đưa tiền cho N mua ma túy của một người tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) rồi đi đến khu vực gần Nhà Văn hóa thuộc bon K, xã Đ, huyện Đ và cùng nhau sử dụng hết số ma túy.

Sau khi xảy ra vụ việc, anh N đã trình báo đến cơ quan Công an để giải quyết. Đến ngày 24/11/2022, C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Bản kết luận định giá tài sản số: 96/KL-HĐĐG ngày 28/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố Gia Nghĩa, kết luận: Tại thời điểm ngày 23/11/2022, xe mô tô loại Sirius 50CC, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 48AF-012.63 có giá trị là 4.900.000 đồng.

Cáo trạng số: 20/CT-VKS-GN, ngày 08-02-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã truy tố bị cáo Hứa Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hứa Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hứa Văn C từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2022.

Về xử lý vật chứng, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa đã trả lại 01 xe mô tô loại Sirius 50CC, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 48AF-012.63 cho anh Hoàng Văn N là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Hoàng Văn N và anh Nguyễn Minh Đ không có yêu cầu.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã truy tố và không bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để kết luận: Vào khoảng 14h40’ ngày 23/11/2022, tại tổ 2, phường N, thành phố G, Hứa Văn C đã có hành vi lén lút, trộm cắp 01 xe mô tô loại Sirius 50CC, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 48AF-012.63 của anh Hoàng Văn N, trị giá 4.900.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cụ thể, Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…”.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

. Về quyết định hình phạt: Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo từng có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, mặc dù đã được xóa án tích nhưng với bản tính lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã không tu chí lao động mà cố tình thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Đối với anh Nguyễn Minh Đ khi mua 01 xe mô tô biển kiểm soát 48AF-012.63 từ Hứa Văn C nhưng anh Đ không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.

Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy được các đối tượng thực hiện tại địa bàn huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk G’Long để thụ lý, xác minh theo thẩm quyền là có căn cứ.

. Về xử lý vật chứng, căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa đã trả lại 01 xe mô tô loại Sirius 50CC, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 48AF-012.63 cho anh Hoàng Văn N là chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ nên không đề cập.

. Về trách nhiệm dân sự: Anh Hoàng Văn N và anh Nguyễn Minh Đ không có yêu cầu nên không đề cập xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hứa Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hứa Văn C 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2022.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Hứa Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ