vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày: 14 - 02 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Chi.

2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2023/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2023 theo hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu:

+ Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Số 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

+ Điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Số 989 đường Đồng Văn Cống, phường Bình Trưng Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm: 1989, tại Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Thu ngân; con ông Nguyễn Văn T(©) và bà Võ Thị L, sinh năm 1957; bị cáo là con út trong gia đình có 04 anh chị em; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/9/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa đặt tại điểm cầu thành phần.

- Bị hại: Anh Trần Văn H là Chủ hộ kinh doanh lẩu dê Đồng Hương – Chi nhánh Trần Não.

Địa chỉ: Khu phố X, phường A, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Anh Ngô Khánh T, sinh năm 1987.

Địa chỉ: huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N là nhân viên thử việc thu ngân tại quán dê Đồng Hương, địa chỉ (179-181, đường Trần Não, Khu phố 3, phường An Khánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) do anh Ngô Khánh T (sinh năm 1987) làm quản lý. Khoảng 20 giờ 19 phút ngày 10/12/2021, trong lúc làm việc, lợi dụng sự sơ hở của chị Phạm Thị T(sinh năm 1998) nhân viên thu ngân trực tiếp ngồi tại quầy tính tiền, N đến quầy thu ngân kéo hộc tủ đựng tiền, lén lút lấy tiền nhét vào túi quần rồi nói với T là ra ngoài ăn tối. Một lúc sau không thấy N quay lại nên chị Thu báo cho anh T biết. Anh T đến quầy thu ngân kiểm tra thì phát hiện tiền trong hộc tủ không còn nên kiểm tra phiếu thu trên máy tính thì phát hiện thiếu 11.067.000 đồng, anh T liên lạc số điện thoại 0945596020 của N thì không liên lạc được. Sao đó, chị Tống Thị Trang là nhân viên tuyển dụng Ng vào làm việc tại quán, liên lạc đến số điện thoại 0972947438 gặp chị Nguyễn Thị Hiệp là chị ruột của N để thương lượng thì được chị Hiệp chuyển vào tài khoản chị Trang 5.000.000 đồng để khắc phục cho N, chị Trang giao lại tiền cho anh T. Do không được gia đình N trả hết số tiền mà N đã lấy nên ngày 16/12/2021, anh T đến Công an phường An Khánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo.

Nguyễn Văn N sau khi lấy trộm số tiền 11.067.000 đồng, đã tiêu xài hết số tiền trên rồi đi xin việc làm nhưng do không có giấy tờ nên không xin được việc. Ngày 20/12/2022, N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại quận Gò Vấp thì bị bắt và bị xử phạt 09 tháng tù. Đến ngày 20/9/2022, N chấp hành xong án phạt tù thì Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức đưa về trụ sở làm việc đối với hành vi trộm cắp tài sản tại quán dê Đồng Hương.

Ngày 21/9/2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn N. Tại Cơ quan Điều tra, N thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 11.067.000 đồng tại quán dê Đồng Hương, vào ngày 10/12/2021.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) USB Micro chứa 01 đoạn Video ghi nhận hình ảnh Nguyễn Văn N lén lút lấy trộm tiền tại quầy thu ngân quán dê Đồng Hương (địa chỉ: 179 – 181, đường Trần Não, Khu phố 3, phường An Khánh, thành phố Thủ Đức) vào ngày 10/12/2021.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã lập Biên bản tạm giữ 5.000.000 đồng của anh Ngô Khánh T giao nộp, đây là tiền chị Hiệp khắc phục hậu quả cho N và 6.067.000 đồng của N khắc phục hậu quả số tiền còn lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại 11.067.000 đồng cho anh Ngô Khánh T là người được ông Trần Văn H- chủ hệ thống dê Đồng Hương ủy quyền.

Tại Cáo trạng số: 53/CT-VKSTPTĐ ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2022.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã trả lại số tiền chiếm đoạt. Bị hại đã nhận tiền, không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan, hình ảnh camera, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Vào khoảng 20 giờ 19 phút ngày 10/12/2021, Nguyễn Văn N có hành vi đến quầy thu ngân của quán dê Đồng Hương (địa chỉ 179-181, đường Trần Não, Khu phố 3, phường An Khánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) nơi Ng đang thử việc thu ngân, kéo hộc tủ đựng tiền, lén lút lấy số tiền 11.067.000 đồng rồi bỏ trốn.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý, lén lút chiếm đoạt số tiền 11.067.000 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 11.067.000 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy sau khi thực hiện lấy trộm được tiền, bị cáo đã bỏ trốn, tiêu xài hết tiền rồi lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản”, sau đó bị xử phạt tù. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền bị cáo và gia đình nộp khắc phục hậu quả, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã trả lại cho người được bị hại ủy quyền là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Đối với 01 (một) USB Micro chứa 01 đoạn Video ghi nhận hình ảnh bị cáo lén lút lấy trộm tiền tại quầy thu ngân quán dê Đồng Hương (địa chỉ: 179 – 181, đường Trần Não, Khu phố 3, phường An Khánh, thành phố Thủ Đức) vào ngày 10/12/2021 là dữ liệu điện tử chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB Micro chứa 01 đoạn Video ghi nhận hình ảnh bị cáo lén lút lấy trộm tiền tại quầy thu ngân quán dê Đồng Hương (địa chỉ: 179 – 181, đường Trần Não, Khu phố 3, phường An Khánh, thành phố Thủ Đức) vào ngày 10/12/2021.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ