- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Dương Việt H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Dương Việt H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày: 29/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Hữu Nhị
- Bà Trương Thị Quỳnh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hường, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2023/TLST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 19/6/2023 đối với bị cáo:
Dương Việt H, Sinh ngày: 24/4/1974; Nơi sinh: thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: tổ dân phố F, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 05/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn C và bà: Trần Thị H1; Vợ: Nguyễn Thị Thùy L; Con: có 2, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: ngày 25/08/2003 bị Công an phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định xử phạt vi phạm chính về hành vi “gây rối đánh nhau, gây mất trật tự công cộng” bằng hình thức phạt tiền 100.000 đồng (đã nộp phạt xong vào ngày 25/8/2003).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/03/2023 đến nay tại phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).
* Bị hại: Ông Nguyễn Bá T; sinh năm 1983; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trú tại: Số nhà G, đường N, tổ dân phố A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
* Người làm chứng: Bà Võ Thị Thu M; sinh năm: 1954; Trú tại: tổ dân phố A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị Nguyệt A; sinh năm: 1967; Trú tại: tổ dân phố A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
Chị Nguyễn Thị Thùy L; sinh năm: 1991; Trú tại: tổ dân phố F, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 31/01/2023, Dương Việt H điều khiển xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger màu đen, BKS: 38C – 15132 chở chị Nguyễn Thị Thùy L (sinh năm 1991, trú tại tổ dân phố F, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, là vợ của H) đi đến khu vực chợ thành phố H để mua đồ. Khi đến nơi H dừng xe trước số nhà G, đường N thuộc phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh để chờ chị L đi vào chợ, H không tắt máy mà vẫn để xe nổ máy. Lúc này anh Nguyễn Bá T (sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh) đi ra và gõ vào cửa kính xe, H hạ kính xe xuống thì anh T nói “Anh không được đậu xe ở đây, đậu xe ở đây nổ máy dầu hôi”. Sau đó H điều khiển xe tiến lên trước khoảng 1 mét đến 2 mét và vẫn để xe nổ máy. Do thấy H không tắt máy xe nên anh T tiếp tục đi lại gõ cửa kính để yêu cầu tắt máy xe nên giữa H và anh T xảy ra cãi vả. Khi nghe anh T nói “Anh thích đập nhau hay răng” thì H bực tức nên ngồi trong xe dùng tay phải đấm vào mặt anh T nhưng không trúng. Khi thấy anh T quay người đi vào nên H mở cửa xe đi ra, lúc này tay phải của H cầm chiếc kéo bằng kim loại màu trắng dài 15cm để trong xe trước đó. H đi lại gần anh T rồi dùng khuỷu tay phải đánh từ trên xuống dưới trúng vào vùng bả lưng người anh T. Thấy bị H đánh nên anh T quay lại dùng tay đánh trả thì H tiếp tục dùng tay trái đánh anh T đồng thời tay phải cầm kéo đâm một nhát trúng vào vùng ngực bên phải của anh T rồi H liền rút kéo ra. Anh T chạy vào nhà cầm dao đi ra thì H đi vào trong xe và điều khiển xe rời đi. Sau đó anh T được gia đình đưa đi chữa trị ở Bệnh viện đa khoa tỉnh H.
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 46/TgT ngày 27/02/2023 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở Y kết luận: Vùng ngực phải cách núm vú ra 03cm, sẹo vết thương kích thước 04cm x 0,3cm, tỷ lệ TTCT là 02%; Đường nách trước bên phải khoang liên sườn 6, 7 sẹo vết mổ dẫn lưu dịch và khí màng phồi kích thước 01cm x 0,4cm, tỷ lệ TTCT là 01%; Tổn thương phổi màng phổi phải tràn dịch màng phổi phải đã phẫu thuật dẫn lưu, hiện tại còn hình ảnh tràn dịch màng phổi phải dày 13mm, tỷ lệ TTCT là 16%; Vết thương nhu mô phổi phải đã phẫu thuật không để lại di chứng, tỷ lệ TTCT là 06%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Nguyễn Bá T là 23% (thương tích do vật sắc nhọn tác động vào gây nên).
Bản cáo trạng số 38/CT-VKS-TPHT ngày 29/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Dương Việt H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Việt H từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 – 60 tháng, kể từ ngày tuyên án và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, trong phần lời nói sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Kiểm sát viên và Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
. Về chứng cứ xác định tội danh:
Tại phiên tòa, Dương Việt H khai nhận: khoảng hơn 8 giờ ngày 31/01/2023 tại trước số nhà G, đường N thuộc phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, do mâu thuẫn trong việc dừng đậu xe nên giữa Dương Việt H và anh Nguyễn Bá T xảy ra đánh nhau, Dương Việt H đã dùng 01 chiếc kéo bằng kim loại dài 15cm (là hung khí nguy hiểm) đâm 01 nhát trúng vào vùng ngực phải của anh T gây tổn thương cơ thể 23% cho anh T.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Phù hợp với kết luận giám định pháp y về thương tích 46/TgT ngày 27/02/2023 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở Y. Hành vi của bị cáo là sử dụng kéo đâm gây thương tích cho bị hại, mức độ tổn thương cơ thể của bị hại anh Nguyễn Bá T là 23%. Chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ trong việc dừng đậu xe mà bị cáo đã dùng kéo (là sử dụng hung khí nguy hiểm) để đâm gây thương tích cho bị hại, hành vi mà bị cáo đã thực hiện có tính chất côn đồ, đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo. Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của người khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết tội Dương Việt H phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
3.1. Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại số tiền 150.000.000 đồng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; Ngoài ra, bị cáo được Chủ tịch ủy ban nhân dân phường T, thành phố H tặng giấy khen vào năm 2009 (vì có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng- an ninh) và năm 2020 (vì có thành tích trong công tác chính quyền, xây dựng phường văn minh đô thị); bị cáo có mẹ là người có công với cách mạng (người được hưởng chính sách như thương binh với tỷ lệ thương tật 4/4); người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
3.2. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người khác. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo và bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại nhằm khắc phục hậu quả của hành vi phạm tội. Trước khi phạm tội bị cáo có nhiều thành tích trong công tác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, xây dựng phường văn minh đô thị trên địa bàn nơi bị cáo sinh sống. Người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, cần xem xét cho các bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật, xử phạt các bị cáo hình phạt tù, cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe và giáo dục đối với các bị cáo.
. Xét luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, về hình phạt, mức án đề nghị đối với Dương Việt H là thỏa đáng.
. Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh Nguyễn Bá T đã được bồi thường đầy đủ số tiền 150.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng: Cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng dài 15cm thu giữ tại Dương Việt H là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố Dương Việt H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Dương Việt H 27 (hai mươi bảy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 54 (năm mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Dương Việt H cho UBND phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Dương Việt H có trách nhiệm phối hợp với phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự; Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng dài 15cm thu giữ tại Dương Việt H là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2023 giữa cán bộ Công an thành phố H và cán bộ Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh).
Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Dương Việt H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND TP Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - CQ ĐT CATP Hà Tĩnh; - T.H.A.P.T; - CQTHADS T.P Hà Tĩnh; - Sở tư pháp Hà Tĩnh; - Bị cáo; bị hại; - Lưu: HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Dũng |