vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 11/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn C phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn C 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (15/11/2022). Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015, tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn C - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn C phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 57 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày: 11 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Hùng.

Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Nhơn.

2. Ông Trương Văn Hà.

3. Ông Phạm Hoài Nam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Lương Thanh Tú – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 04 năm 2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Đinh Văn C, sinh ngày 18/02/1998 tại tỉnh Q; nơi thường trú: Thôn LR, xã LM, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; tạm trú: Thôn XÂ, xã SC, huyện S, tỉnh Q; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Hre; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Tr và bà Đinh Thị Tr; có vợ là Đinh Thị T và 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 15/11/2022 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Đinh Văn C: Ông Nguyễn Chí Kh - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q (Theo Quyết định về việc cử Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng số 390/QĐ-TGPL ngày 15/11/2022 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q); vắng mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Đinh Thị M; sinh ngày 18/06/1983; trú tại: Thôn LG, xã SC, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Trịnh Văn H là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q (Theo Quyết định thay thế Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng số 458/QĐ-TGPL ngày 19/12/2022 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q); có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Đinh Văn L, sinh năm 1992; có mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn LG, xã SC, huyện S, tỉnh Q.

2. Anh Đinh Văn Ch, sinh ngày 12/07/2006; có mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn LG, xã SC, huyện S, tỉnh Q.

3. Anh Đinh Văn G, sinh năm 1999; vắng mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn LG, xã SC, huyện S, tỉnh Q.

4. Anh Đinh Văn Kh, sinh ngày 31/07/2005; vắng mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn LG, xã SC, huyện S, tỉnh Q.

5. Anh Đinh Văn Qu, sinh năm 2002; vắng mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn XÂ, xã SC, huyện S, tỉnh Q.

6. Anh Đinh Văn Ng, sinh năm 1996; vắng mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn XÂ, xã SC, huyện S, tỉnh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 29/7/2022, Đinh Văn C cùng Đinh Văn Ng, sinh năm 1996, Đinh Văn Qu, sinh năm 2000, Đinh Văn G, sinh năm 1999 (là em ruột của Đinh Văn Ng) và một số người khác nhậu và hát karaoke tại quán của chị Đinh Thị M, sinh năm 1983, ở thôn LG, xã SC, huyện S. Khoảng 22 giờ cùng ngày, G tính tiền rồi đi về trước, nhóm của Công tiếp tục uống bia (lúc này, trong hai thùng bia thì vẫn còn 12 chai bia Dung Quất chưa khui). Thời điểm này, Đinh Văn Kh, sinh năm 2005 đến phòng karaoke nhưng không uống bia mà ngồi riêng một bàn bên cạnh chơi game trên điện thoại. Khoảng 23 giờ cùng ngày thì Ng, Qu và một số người khác đi về. Lúc này, chỉ còn C và Kh ở lại. C rủ Kh mang số bia còn lại về nhà Kh uống tiếp và bảo Kh vào nhà hỏi ý kiến chị M. Kh đi vào nhà, nói chị M cho mang bia về. Nghe vậy, chị M nói bia của những người đã đi về rồi, để mai họ xuống uống và không đồng ý cho Kh mang về. Kh quay lại nói với C rồi lấy xe đi về nhà, C tiếp tục ở lại phòng uống bia.

Thấy mọi người đã về, chị M vào phòng karaoke để dọn dẹp. C bực tức về việc chị M không cho mang số bia G đã tính tiền đem về nên dùng tay phải lấy 01 (một) chai bia chưa khui đập từ trên xuống trúng vào phần phía sau đầu chị M, chai bia vỡ, chị M đứng lên và lùi lại vài bước. C vứt cổ chai bia xuống nền, dùng tay phải lấy 01 vỏ chai bia đập vào phần đầu bên trái chị M, chị M ngã xuống nền, kêu cứu và bò ra khỏi phòng. C tiếp tục dùng tay phải lấy 01 chai bia chưa khui, đi đến chỗ chị M, đập chai bia trúng vào phần trán bên phải. Chị M đứng dậy bỏ chạy ra khỏi cửa thì Đinh Văn C vứt cổ chai bia, nhảy đến, đè lên người, dùng răng cắn một cái vào vùng vai phải, một cái vào bắp tay phải (phía sau) và lật người chị M nằm ngửa rồi ngồi lên phần bụng, dùng hai tay đánh vào vùng đầu, vùng mặt chị M. Thấy vậy, chị M nói: “Thôi đừng đánh chị nữa, em muốn lấy gì, làm gì thì em lấy” nhưng C vẫn tiếp tục dùng hai tay bóp cổ, đánh vào mặt, dùng răng cắn vào bắp tay phải (phía trước) của chị M. Lúc này có cháu Đinh Văn Ch, ở gần nhà thấy C đánh chị M, nên nói với anh Đinh Văn L (em ruột chị M và ở gần nhà) cầm một khúc cây chạy đến chỗ đánh nhau. Thấy anh Lý đến, Công mới dừng lại không đánh chị M nữa, anh L giữ lấy tay thì C nói L đừng đánh mình và gọi Công an đến giải quyết. Sau đó, Chị M được đưa đi cấp cứu và Công an xã SC, huyện S đến làm việc.

Quá trình điều tra, Đinh Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu ở trên.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 262/TgT ngày 24/08/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Ngãi, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với Đinh Thị M là 18% (Mười tám phần trăm).

Tại bản Kết luận giám định số 1016/KL-KTHS, ngày 17/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Q, kết luận: Các chất màu nâu đỏ thu giữ ở vị trí V2, V3, V4, V5 tại hiện trường, gửi giám định, là máu người thuộc nhóm máu O; Mẫu máu thu của bà Đinh Thị M, gửi giám định thuộc nhóm máu O.

Việc thu giữ, tạm giữ và xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh, màu nâu có nắp đậy bằng kim loại ghi chữ “Dung Quất”; 03 (ba) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dạng kích thước; 05 (năm) mảnh vỡ thủy tinh màu nâu không xác định hình dạng kích thước; 03 (ba) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dạng kích thước; 01 (một) vỏ chai thủy tinh không còn nắp đậy có dán nhãn “Dung Quất”; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh có nắp đậy bằng kim loại có chữ “Dung Quất”; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh không còn nắp; 05 (năm) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dáng, kích thước.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 03/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Đinh Văn C về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đinh Văn C từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về dân sự: Bị hại Đinh Thị M yêu cầu bị cáo Đinh Văn C bồi thường số tiền 110.271.332 đồng (Một trăm mười triệu hai trăm bảy mươi mốt nghìn ba trăm ba mươi hai đồng). Bị cáo Đinh Văn C đã bồi thường số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) cho bị hại Đinh Thị M. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo Đinh Văn C bồi thường cho chị Đinh Thị M theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh, màu nâu có nắp đậy bằng kim loại ghi chữ “Dung Quất”; 03 (ba) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dạng kích thước; 05 (năm) mảnh vỡ thủy tinh màu nâu không xác định hình dạng kích thước; 03 (ba) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dạng kích thước; 01 (một) vỏ chai thủy tinh không còn nắp đậy có dán nhãn “Dung Quất”; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh có nắp đậy bằng kim loại có chữ “Dung Quất”; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh không còn nắp; 05 (năm) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dáng, kích thước.

Luận cứ bào chữa cho bị cáo Đinh Văn C: Cáo trạng truy tố bị cáo Đinh Văn C về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; mặc dù hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn nhưng bị cáo đã cố gắng khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại; bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có con còn nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn C từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Giết người”.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của người bị hại phát biểu:

Về tội danh và hình phạt: Thống nhất với Cáo trạng và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Q.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn C chấp nhận các khoản chi phí bồi thường thiệt hại trong quá trình điều trị do chị Đinh Thị M yêu cầu với tổng số tiền là 50.671.332 đồng nên không có ý kiến gì. Riêng đối với khoản bồi thường tổn thất về tinh thần chị M yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 59.600.000 đồng, tương đương với 40 tháng lương cơ sở, bị cáo Công không chấp nhận và đề nghị Tòa xem xét. Xét thấy, chị Đinh Thị M bị thương tích 18% nhưng bị cáo đánh vào vùng trọng yếu là vùng đầu, có thể nguy hiểm đến tính mạng; ngoài ra, chị M là phụ nữ nên vết thương ở khuôn mặt cũng ảnh hưởng rất lớn đối với tinh thần của chị M. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, buộc bị cáo Công bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho chị M với số tiền 59.600.000 đồng, cộng với các khoản chi phí bồi thường thiệt hại trong quá trình điều trị với số tiền là 50.671.000 đồng; buộc bị cáo Công bồi thường cho chị M tổng cộng là 110.271.332 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong suốt quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định.

Tại phiên tòa người bào chữa theo luật định cho bị cáo Đinh Văn C là ông Nguyễn Chí Kh vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo, bị cáo Đinh Văn C đề nghị xét xử vắng mặt ông Nguyễn Chí Kh; những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do, xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ các Điều 291, 293 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

Tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 29/7/2022, Đinh Văn C cùng Đinh Văn Ng, Đinh Văn Qu, Đinh Văn G và một số người khác nhậu và hát karaoke tại quán của chị Đinh Thị M. Khoảng 23 giờ cùng ngày thì những người đi hát karaoke cùng Công đã tính tiền và đi về, tại quán chị M chỉ còn Công và Kh ở lại, lúc này vẫn còn 12 chai bia Dung Quất chưa khui. Công rủ Kh hỏi chị M cho mang bia về nhưng chị M không đồng ý. Thấy mọi người đã về, chị M vào phòng karaoke để dọn dẹp. Bực tức việc chị M không cho mang bia về uống nên Đinh Văn C lấy 01 (một) chai bia chưa khui đập trúng vào phần phía sau đầu chị M, chị M đứng lên thì Công tiếp tục lấy 01 vỏ chai bia đập vào phần đầu bên trái chị M, chị M ngã xuống nền, kêu cứu và bò ra khỏi phòng; C tiếp tục lấy 01 chai bia chưa khui đập vào phần trán bên phải của chị M. Sau khi bị C đập 03 chai bia vào đầu, chị M bỏ chạy nhưng C không dừng lại mà đuổi theo tiếp tục đè lên người, dùng răng cắn vào vai phải, bắp tay phải và ngồi lên phần bụng, dùng hai tay đánh vào vùng đầu, vùng mặt chị M. Chị M xin C đừng đánh nữa nhưng C vẫn tiếp tục dùng hai tay bóp cổ, đánh vào mặt, dùng răng cắn vào tay phải của chị M. Khi thấy anh Đinh Văn L đến thì C mới dừng lại không đánh chị M nữa. Sau đó, Chị M được đưa đi cấp cứu.

Bị cáo Đinh Văn C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo biết được vùng đầu, trán là vùng trọng yếu trên cơ thể của con người, nhưng vì bực tức chị M không cho mang bia về nhà uống nên bị cáo đã đập liên tiếp 03 (Ba) chai bia vào vùng đầu, trán chị M (Trong đó, có 02 chai chưa khui), sau đó tiếp tục đè lên người chị M dùng răng cắn, dùng tay bóp cổ và đánh nhiều cái vào đầu chị M, chị M xin tha nhưng bị cáo không dừng lại, khi anh Đinh Văn L đến thì bị cáo mới dừng lại. Hành vi của bị cáo Công thể hiện sự quyết liệt muốn tước đoạt tính mạng chị M, việc chị M không chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 262/TgT ngày 24/08/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Q, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với Đinh Thị M là 18% (mười tám phần trăm), gồm: sẹo vùng trán kt (6 x 0,3) cm: 06%, sẹo vùng trán kt (2,5 x 0,4) cm: 2,82%, sẹo vùng má kt (1 x 0,2) cm: 2,73%, sẹo vùng má kt (2 x 2,1) cm: 2,65%, sẹo vùng đầu kt (1 x 0,2) cm: 0,85%, sẹo vùng đầu kt (1 x 0,2) cm: 0,84%, sẹo 05 ngón bàn tay trái kt (2 x 0,3) cm: 0,84%, sẹo gối trái kt (1 x 0,2) cm: 0,83%.

Hành vi của bị cáo Đinh Văn C đủ yếu tố cấu thành tội giết người có tính chất côn đồ. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Q truy tố bị cáo Đinh Văn C về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đinh Văn C: Không có.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đinh Văn C: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) cho bị hại; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; đã tham gia nghĩa vụ quân sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 được áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Trong vụ án này, hậu quả chết người chưa xảy ra nên khi quyết định hình phạt áp dụng Điều 57 Bộ luật hình sự về phạm tội chưa đạt đối với bị cáo Đinh Văn C.

Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa sơ thẩm chị Đinh Thị M yêu cầu bị cáo Đinh Văn C phải bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 110.271.332 đồng, gồm những khoản sau:

- Chi phí thuốc điều trị và phẩu thuật thẩm mỹ là 25.571.332 đồng.

- Chi phí cho việc đi lại khám chữa bệnh là 3.500.000 đồng.

- Chi phí bồi dưỡng hồi phục sức khỏe trong thời gian điều trị tại Bệnh viện 2.700.000 đồng.

- Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị hại trong thời gian điều trị 18 ngày là 4.500.000 đồng (250.000 đồng/ngày x 18 ngày).

- Thu nhập thực tế bị mất của người bị hại trong thời gian điều trị tại bệnh viện, tại nhà và thời gian điều trị thẩm mỹ là 72 ngày với số tiền 14.400.000 đồng (200.000 đồng/ngày x 72 ngày).

- Tiền bù đắp tổn thất tinh thần với số tiền là 59.600.000 đồng, tương đương với 40 tháng lương cơ sở (40 tháng x 1.490.000 đồng).

Tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn C chấp nhận bồi thường thiệt hại cho chị Đinh Thị M toàn bộ chi phí cho việc điều trị như chị M đã kê khai với tổng số tiền 50.671.332 đồng; xét thấy, việc bị cáo đồng ý bồi thường cho chị M là hoàn toàn tự nguyện nên được chấp nhận. Riêng đối với tiền bù đắp tổn thất tinh thần, chị Đinh Thị M yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 59.600.000 đồng, tương đương với 40 tháng lương cơ sở thì bị cáo không chấp nhận, yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.

Xét yêu cầu của chị Đinh Thị M đối với tiền bù đắp tổn thất tinh thần, thì thấy: Chị Đinh Thị M bị thương tích 18 % và bị ở vùng trán, mặt ảnh hưởng đến thẩm mỹ của khuôn mặt, chị M là phụ nữ nên cũng ảnh hưởng lớn về tinh thần, nên chấp nhận tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho chị M là 44.700.000 đồng, tương đương với 30 tháng lương cơ sở (30 tháng x 1.490.000 đồng).

Theo nhận định trên thì các chi phí được chấp nhận tổng cộng là 95.371.332 đồng, gồm:

- Chi phí thuốc điều trị và phẩu thuật thẩm mỹ là 25.571.332 đồng.

- Chi phí cho việc đi lại khám chữa bệnh là 3.500.000 đồng.

- Chi phí bồi dưỡng hồi phục sức khỏe trong thời gian điều trị tại Bệnh viện 2.700.000 đồng.

- Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị hại trong thời gian điều trị tại bệnh viện 18 ngày là 4.500.000 đồng (250.000 đồng/ngày x 18 ngày).

- Thu nhập thực tế bị mất của người bị hại trong thời gian điều trị tại bệnh viện, tại nhà và thời gian điều trị thẩm mỹ là 72 ngày với số tiền 14.400.000 đồng (200.000 đồng/ngày x 72 ngày).

- Tiền bù đắp tổn thất tinh thần với số tiền là 44.700.000 đồng, tương đương với 30 tháng lương cơ sở (30 tháng x 1.490.000 đồng).

Do đó, buộc bị cáo Đinh Văn C phải bồi thường thiệt hại cho chị Đinh Thị M tổng số tiền là 95.371.332 đồng, bị cáo đã bồi thường cho chị M số tiền 8.000.000 đồng, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho chị Đinh Thị M số tiền 87.371.332 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh, màu nâu có nắp đậy bằng kim loại ghi chữ “Dung Quất”; 03 (ba) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dạng kích thước; 05 (năm) mảnh vỡ thủy tinh màu nâu không xác định hình dạng kích thước; 03 (ba) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dạng kích thước; 01 (một) vỏ chai thủy tinh không còn nắp đậy có dán nhãn “Dung Quất”; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh có nắp đậy bằng kim loại có chữ “Dung Quất”; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh không còn nắp; 05 (năm) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dáng, kích thước.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đề nghị của Luật sư được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

Về án phí: Bị cáo Đinh Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.368.567 đồng (87.371.332 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Đinh Văn C phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn C 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (15/11/2022).

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015, tuyên:

- Buộc bị cáo Đinh Văn C phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Đinh Thị M số tiền là 95.371.332 đồng, bị cáo đã bồi thường trước cho chị M số tiền 8.000.000 đồng, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho chị Đinh Thị M số tiền 87.371.332 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi suất theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với khoản tiền và thời gian chậm thi hành án, cho đến khi thi hành xong bản án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh, màu nâu có nắp đậy bằng kim loại ghi chữ “Dung Quất”; 03 (ba) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dạng kích thước; 05 (năm) mảnh vỡ thủy tinh màu nâu không xác định hình dạng kích thước; 03 (ba) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dạng kích thước; 01 (một) vỏ chai thủy tinh không còn nắp đậy có dán nhãn “Dung Quất”; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh có nắp đậy bằng kim loại có chữ “Dung Quất”; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh không còn nắp; 05 (năm) mảnh vỡ thủy tinh không xác định hình dáng, kích thước.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/3/2023 giữa Công an tỉnh Quảng Ngãi và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi).

4. Về án phí:

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đinh Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.368.567 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Kháng cáo:

Án sơ thẩm xử công khai, bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ