vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 29/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Diệp Minh X phạm tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 229, điểm b, s, t, i, v khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Diệp Minh X 12 (Mười hại) tháng cải tạo không giam giữ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Diệp Minh X - phạm tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (điều 229 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Diệp Minh X phạm tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 229 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày: 29 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Bách.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trương Thành Quang.

Bà Lê Thị Chinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hán Thị Hồng Đào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chuốt – Kiểm sát viên.

Ngày 29 - 8 - 2023, tại Phòng xét xử số 02, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

DIỆP MINH X, sinh năm: 1968, tại tỉnh Ninh Thuận; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Nguyên Phó chủ tịch UBND huyện T (Đảng viên ĐCS Việt Nam, hiện đang bị Đình chỉ sinh hoạt Đảng); Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Diệp C (Đã chết) và bà Lê Thị G; Vợ là: Kiều Thị N, Có 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, T giam: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Diệp Minh X:

1. Luật sư Trần Đăng K – thuộc Văn phòng L, Đoàn luật sư tỉnh Ninh Thuận. Địa chỉ: Số A đường B, phường P, Tp . - T, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt tại phiên tòa.

2. Các Luật sư Võ Thị Xuân T1, Phạm Thanh P, thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Tầng H, Tòa nhà S - số A C, phường B, Quận C, Tp .. Có mặt tại phiên tòa.

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện T.

Đại diện theo pháp luật: ông Trương Xuân V - Chủ tịch UBND huyện.

Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Trần T2, sinh năm: 1983;

– Trưởng phòng tài nguyên môi trường. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Vũ Văn Q, sinh năm: 1976 Nơi cư trú: Khu phố C, phường Đ, Tp . - T, tỉnh Ninh Thuận; Có mặt tại phiên tòa.

2. Ông Hán Tấn Vĩnh A, sinh năm: 1977;

Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Có mặt tại phiên tòa.

3. Ông: Nguyễn Việt B, sinh năm: 1987 Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, Tp . - T, tỉnh Ninh Thuận. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Diệp Minh X nguyên là Phó Chủ tịch UBND huyện T, được phân công phụ trách lĩnh vực đất đai, trực tiếp ký ban hành các quyết định cho thuê đất trên địa bàn huyện T.

Trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2019, ông X đã ký ban hành 69 quyết định cho 69 trường hợp thuê đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp với tổng diện tích 24.655,21 m2 mà không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất. Trong đó có: 31 trường hợp khi cho thuê đất đã có tài sản trên đất (gồm 02 trường hợp ngoài cảng C và 29 trường hợp trong cảng C) và 38 trường hợp khi cho thuê thì trên đất chưa có tài sản;

Trong đó có 37 trường hợp được cho thuê sau ngày 01/7/2014 (Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực) và sau ngày 01/7/2015 (Luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực); 01 trường hợp cho thuê trước ngày 01/7/2015 (Luật đầu tư 2005 còn hiệu lực).

- Đối với 37 trường hợp cho thuê sau ngày 01/7/2014 và sau ngày 01/7/2015 gồm:

Số thửa

Diện

Ngày kết

Người thuê

đất thuê TT

tích

Ngày thuê

thúc thời

đất

(Tờ bản đồ:

(m2)

hạn thuê

QH)

Trương Văn

1

Thửa số: 181

200

26/08/2015 23/10/2030

Lộc

Trần Thị

2

Thửa số: 182

200

08/04/2016 08/04/2021

Vương Ngân

3

Đinh Thị Kiều Thửa số: 194

200

14/08/2017 14/08/2036

4

Đinh Văn Cấn Thửa số: 193

200

14/08/2017 14/08/2036

5 Huỳnh Thị Búp Thửa số: 197

200

14/08/2017 14/08/2036

Nguyễn Thị

6

Thửa số: 198

200

14/08/2017 14/08/2036

Búp

Huỳnh Thị

Thửa số: 204,

7

400

14/08/2017 14/08/2036

Thúy Trinh

205

Thửa số: 219,

8

Lê Trung Nhân

400

25/09/2017 25/09/2036

220

9

Trịnh Văn Đức Thửa số: 209 268,7 25/09/2017 25/09/2036

Nguyễn Thị

Thửa số: 202, 10

400

14/08/2017 14/08/2036

Thanh Thùy

203

Nguyễn Văn 11

Thửa số: 200

200

14/08/2017 14/08/2036

Phúc 12

Phạm Cu Em Thửa số: 187

200

14/08/2017 14/08/2036

Phạm Thị 13

Thửa số: 208

200

14/08/2017 14/08/2036

Hường

Phạm Thị Kim 14

Thửa số: 201

200

14/08/2017 14/08/2036

Thoa 15

Bùi Hùng

Thửa số: 212

200

16/01/2018 16/01/2037

Huỳnh Thị 16

Thửa số: 211

200

16/01/2018 16/01/2037

Tiến

Lê Thị Kim 17

Thửa số: 214

200

16/01/2018 16/01/2037

Oanh

Nguyễn Thị 18

Thửa số: 206

275

15/06/2018 15/06/2037

Thanh Thùy

Nguyễn Phi

Thửa số: 195, 19

400

21/12/2018 14/08/2036

Công

196

Phan Thị Thu 20

Thửa số: 213

200

16/01/2018 16/01/2037

Tuyền

Nguyễn Ngọc 21

Thửa số: 184

200

10/07/2017 10/07/2036

Vũ 22 Phạm Phi Long Thửa số: 183

200

21/07/2017 21/07/2036 23

Phan Thị Bảy Thửa số: 207

262

18/07/2017 18/07/2036 24

Phan Thị Son Thửa số: 116

200

18/07/2017 18/07/2036

Trương Thị

Thửa số: 189, 25

400

05/07/2017 05/07/2036

Huệ

190

Trần Thị Lan 26

Thửa số: 217

200

20/03/2018 20/03/2037

Anh

Trương Ngọc Thửa số: 215, 27

400

20/03/2018 20/03/2037

Phi

216 28

Lê Thị Diễm Thửa số: 210

200

16/07/2018 16/07/2037

Thửa số: 135, 29 Trần Thị Loan

400

06/12/2018 06/12/2037

136

Đinh Thị Thùy 30

Thửa số: 353 350,5 18/09/2018 18/09/2037

Dương 31 Đào Ngọc Anh Thửa số: 230 200,6 19/02/2019 19/02/2038 32

Tống Trung

Thửa số: 115 134,5 26/02/2019 26/02/2038

Nguyễn Thế 33

Thửa số: 188

200

21/03/2019 21/03/2038

Vinh

Trần Minh 34

Thửa số: 186

200

21/03/2019 21/03/2038

Hùng

Nguyễn Thế 35

Thửa số: 185

200

21/03/2019 21/03/2038

Thành 36

Đậu Thị Quy Thửa số: 199

200

09/12/2019 09/12/2038

Hàng Ngọc

Thửa số: 191; 37

400

11/07/2019 11/07/2038

Long

192

Tổng cộng

9.291,3

Cả 37 trường hợp trên là đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp nên được sự điều chỉnh bởi Luật đất đai năm 2013 và Luật đầu tư năm 2014.

Tại điểm d khoản 1 Điều 118 Luật đất đai năm 2013, quy định: “Các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất và các trường hợp không phải đấu giá quyền sử dụng đất”;

Tại điểm b khoản 2 Điều 118 Luật đất đai năm 2013 quy định: Các trường hợp không đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất “Sử dụng đất được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất quy định tại Điều 110 của Luật này”;

Theo điểm a khoản 1 điều 110 Luật đất đai năm 2013 quy định: Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất:

1. Việc miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, trừ dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại;

Tại khoản 2 Điều 15 Luật đầu tư năm 2014 quy định: “Đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư là các dự án đầu tư.....”.

Như vậy, theo các văn bản hướng dẫn trên thì: cả 37 trường hợp mà UBND huyện T cho thuê đất đều không phải là dự án đầu tư; không có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nên không thuộc trường hợp được miễn, giảm tiền thuê đất và phải tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 118 Luật đất đai năm 2013: “Các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất: Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp (SKC)”.

Đồng thời, khi cho thuê đất thì tất cả các thửa đất đều không có tài sản trên đất nên đủ điều kiện tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất.

Vì vậy, việc cho 37 trường hợp nói trên thuê đất mà không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất là sai quy định về quản lý đất đai.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 62/KLĐGTS-TTHS ngày 10/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Thuận kết luận: Tổng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm cho thuê được quy đổi thành tiền đối với 37 thửa đất mà UBND huyện T cho thuê sai quy định là: 1.792.585.147 đồng.

Tại Bản kết luận giám định giá tài sản số 438/KL-HĐĐGTS ngày 14/2/2023 xác định giá trị Nhà nước bị thiệt hại đối với 37 trường hợp UBND huyện T cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất là: 195.313.454 đồng.

Liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Diệp Minh X còn có:

- Vũ Văn Q – Nguyên Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T: Với vai trò công tác tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T được giao phụ trách theo dõi, tham mưu công tác quản lý, sử dụng đất đai trong đó có việc cho thuê đất đã ký 17 tờ trình tham mưu lãnh đạo UBND huyện T ký ban hành quyết định cho 17 trường hợp thuê đất với tổng diện tích 4.347,6 m2, tương đương giá trị quyền sử dụng đất được quy thành tiền là: 942.418.945 đồng, mà không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất trước khi cho thuê là sai quy định tại điểm d khoản 1 Điều 118 Luật đất đai năm 2013. Hành vi của Vũ Văn Q chưa cấu thành tội Vi phạm các quy định về quản lý đất đai theo theo Điều 229 BLHS.

- Hán Tấn Vĩnh A - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T: Cũng với vai trò công tác tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T được giao phụ trách theo dõi, tham mưu công tác quản lý, sử dụng đất đai trong đó có việc cho thuê đất đã ký 20 tờ trình tham mưu lãnh đạo UBND huyện T ký ban hành quyết định cho 20 trường hợp thuê đất với tổng diện tích 4.943,7 m2, tương đương giá trị quyền sử dụng đất được quy thành tiền là: 850.166.470 đồng, mà không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất trước khi cho thuê là sai quy định tại điểm d khoản 1 Điều 118 Luật đất đai năm 2013. Hành vi của Hán Tấn Vĩnh A chưa cấu thành tội Vi phạm các quy định về quản lý đất đai theo theo Điều 229 BLHS.

Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với Q, A.

Quá trình điều tra, bị cáo Diệp Minh X nộp số tiền 100.000.000 đồng, ông Hán Tấn Vĩnh A đã nộp số tiền 50.000.000 đồng và ông Vũ Văn Q đã nộp số tiền 45.313.454 đồng để khắc phục thiệt hại xảy ra.

* Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS-P1 ngày 07 – 4 - 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố Diệp Minh X về tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” theo điểm b khoản 1 Điều 229 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội giống nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã truy tố;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vũ Văn Q, Hấn Tấn Vĩnh A1 khai nhận: đã nộp tiền khắc phục thiệt hại, không có ý kiến gì đối với số tiền này. Đồng ý nộp số tiền này cùng với bị cáo Diệp Minh X khắc phục thiệt hại cho nhà nước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm luận tội và tranh luận:

Hành vi của bị cáo Diệp Minh X xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về quản lý đất đai. Tuy nhiên, việc thay đổi các quy định pháp luật về đất đai, thiếu các văn bản hướng dẫn kịp thời.

Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận đối với bị cáo Diệp Minh X là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong công tác được quy định tại điểm b, s, t, i, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có đủ điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố: Bị cáo Diệp Minh X phạm tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai”.

Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 229, điểm b, s, t, i, v khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS), xử phạt bị cáo Diệp Minh X từ 12 – 15 tháng cải tạo không giam giữ. Áp dụng Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 195.313.454đ. Tiếp tục tạm giữ 195.313.454đ để đảm bảo thi hành án. * Các Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến:

- Luật sư Phạm Thanh P:

Các văn bản pháp luật còn chồng chéo, nhiều văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh H thi hành và các cuộc thanh tra vẫn không có ý kiến, phát hiện sai phạm. Động cơ , mục đích: bị cáo không có tư lợi. Các tình tiết giảm nhẹ: đồng ý với ý kiến của Viện kiểm sát tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Theo Nghị quyết 03 năm 2020 hướng dẫn áp dụng Điều 59 BLHS đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt đối với bị cáo.

- Luật sư Võ Thị Xuân T1:

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo có mẹ là gia đình Liệt sỹ. Theo Theo Nghị quyết 03 năm 2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, bị cáo có đủ điều kiện áp dụng miễn hình phạt đối với bị cáo.

- Luật sư Trần Đăng K:

Về tội danh: Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ , đúng pháp luật. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ giống với quan điểm của Viện kiểm sát tại điểm b, s, i, t, v khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo X không có động cơ, mục đích tư lợi, chỉ vì tin tưởng đồng nghiệp nên phạm tội là lỗi cố ý gián tiếp. Tính nguy hiểm cho xã hội không lớn. Bị cáo có nhân thân tốt, được tặng thưởng nhiều Giấy khen, Bằng khen, gia đình có công cách mạng. Các quy định pháp luật về đất đai có nhiều văn bản khác nhau.

Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.

- Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo không có vụ lợi trong hành vi phạm tội, đề nghị xem xét cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thẩm quyền xét xử:

Bị cáo Diệp Minh X là cán bộ lãnh đạo chủ chốt (Phó chủ tịch UBND) ở Ủy ban nhân dân huyện T nên Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận tiến hành xét xử sơ thẩm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 268 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa, vắng mặt ông Nguyễn Việt B dù đã được triệu tập hợp lệ. Sự vắng mặt của ông B không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự (viết tắt là BLTTHS).

Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Diệp Minh X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo được đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa; nhận thấy là phù hợp, có đủ căn cứ để xác định:

Ông Diệp Minh X nguyên là Phó Chủ tịch UBND huyện T, được phân công phụ trách lĩnh vực đất đai, trực tiếp ký ban hành các quyết định cho thuê đất. Trong khoảng thời gian từ ngày 26/08/2015 đến ngày 09/12/2019 đã ký ban hành 37 quyết định cho thuê đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp mà không thông qua đấu giá, với tổng diện tích 9.291,3 m2, có giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm cho thuê được quy thành tiền là: 1.792.585.147 đồng là vi phạm quy định pháp luật của Nhà nước về quản lý đất đai, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền 195.313.454 đồng.

Về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:

Tại đơn kiến nghị, xem xét ngày 14/7/2023 bị cáo Diệp Minh X cho rằng: trong 37 trường hợp mà bị cáo cho thuê đất có 19 trường hợp cho thuê trước 18/11/2017 là hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 27 BLHS quy định: “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.”…….

Trong 37 trường hợp cho thuê đất, sau ngày 18/11/2017 bị cáo Diệp Minh X vẫn tiếp tục ký quyết định cho thuê đất 18 trường hợp khác (trong đó trường hợp thứ 37 cho thuê vào ngày 20/03/2018);

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Diệp Minh X được tính lại kể từ ngày 20/3/2018 đối với tất cả 37 trường hợp cho thuê đất mà bị cáo đã thực hiện.

Do vậy, đề nghị xem xét thời hiệu truy cứu trách nhiệm của bị cáo là không đúng với quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.

Về tội danh:

Tại Điều 229 BLHS về tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” quy định:

1. Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái quy định của pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a)……………

b) Đất có giá trị quyền dụng đất được quy thành tiền từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng đối với đất nông nghiệp hoặc từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng đối với đất phi nông nghiệp;

Về chủ thể: Bị cáo Diệp Minh X là người có chức vụ, quyền hạn, được phân công phụ trách lĩnh vực đất đai trong đó có việc ký quyết định cho thuê đất nhưng khi cho thuê đất đã làm trái các quy định của pháp luật về đất đai, cụ thể: [4.2] Các quy định của Luật đất đai năm 2013, Luật đầu tư năm 2014 (có hiệu lực vào thời điểm cho thuê đất):

Cả 37 trường hợp cho thuê đất nêu trên là đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp nên được sự điều chỉnh bởi Luật đất đai năm 2013 và Luật đầu tư năm 2014.

- Tại điểm b khoản 2 Điều 118 Luật đất đai năm 2013 quy định: Các trường hợp không đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất “Sử dụng đất được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất quy định tại Điều 110 của Luật này”;

- Tại điểm a khoản 1 điều 110 Luật đất đai năm 2013 quy định các trường hợp “Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất”:

a) Sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, trừ dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại;

- Tại khoản 2 Điều 15 Luật đầu tư năm 2014 quy định: “Đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư là các dự án đầu tư.....”.

- Tại điểm d khoản 1 Điều 118 Luật đất đai năm 2013: “Các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất: Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp (SKC)”.

Như vậy, theo các văn bản trên thì: cả 37 trường hợp mà UBND huyện T cho thuê đất đều không phải là dự án đầu tư; không có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nên không thuộc trường hợp được miễn, giảm tiền thuê đất; Đồng thời, khi cho thuê đất thì tất cả các thửa đất đều không có tài sản trên đất nên đủ điều kiện tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất và phải tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất;

Việc cho 37 trường hợp nói trên thuê đất mà không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất là trái với quy định về quản lý đất đai. Bị cáo Diệp Minh X là người trực tiếp ký quyết định cho thuê đất phải chịu trách nhiệm về việc cho thuê đất trái quy đinh này. [4.3] Về giá trị đất:

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 62/KLĐGTS-TTHS ngày 10/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Thuận kết luận: Tổng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm cho thuê được quy đổi thành tiền đối với 37 thửa đất mà UBND huyện T cho thuê sai quy định là: 1.792.585.147 đồng.

Về thiệt hại của hành vi:

Tại Bản kết luận giám định giá tài sản số 438/KL-HĐĐGTS ngày 14/2/2023 xác định: giá trị Nhà nước bị thiệt hại đối với 37 trường hợp UBND huyện T cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất là: 195.313.454 đồng.

Kết luận: từ những phân tích trên, có đủ căn cứ xác định: bị cáo Diệp Minh X phạm tội: “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” theo điểm b khoản 1 Điều 229 Bộ luật Hình sự.

Việc Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Diệp Minh X về tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” theo khoản 1 Điều 229 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo phải đánh giá là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý thống nhất của Nhà nước đối với đất đai nên Hội đồng xét xử sơ thẩm cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm, trong quá trình giải quyết vụ án; đã khắc phục thiệt hại cho nhà nước; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người có thành tích xuất sắc trong công tác và gia đình bị cáo có công với đất nước. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, t, i, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi làm việc ổn định, có nơi cư trú rõ ràng. Hành vi phạm tội của bị cáo một phần do chính sách pháp luật về đất đai có sự thay đổi liên tục, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, việc cập nhật của bộ phận tham mưu chưa chính xác, dẫn đến sai phạm của bị cáo nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe đối với bị cáo.

Các đối tượng khác:

Liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Diệp Minh X còn có:

- Vũ Văn Q đã tham mưu để Diệp Minh X cho 17 trường hợp thuê đất, với tổng diện tích 4.347,6 m2, tương đương giá trị quyền sử dụng đất được quy thành tiền là: 942.418.945 đồng;

- Hán Tấn Vĩnh A đã tham mưu Diệp Minh X cho 20 trường hợp thuê đất, với tổng diện tích 4.943,7 m2, tương đương giá trị quyền sử dụng đất được quy thành tiền là: 850.166.470 đồng;

Hành vi của Vũ Văn Q, Hán Tấn Vĩnh A chưa đủ định lượng cấu thành tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai” theo Điều 229 BLHS. Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Q, A là có căn cứ nên không xem xét, xử lý nữa.

Biện pháp tư pháp:

Diệp M, Vũ Văn Q, Hán Tấn Vĩnh A cho thuê đất trái quy định về quản lý đất đai, gây thiệt hại cho nhà nước, theo kết luận giám định giá tài sản số 438/KL-HĐĐGTS ngày 14/2/2023 là: 195.313.454 đồng

Quá trình điều tra bị cáo Diệp Minh X đã tự nguyện nộp số tiền 100.000.000 đồng, ông Hán Tấn Vĩnh A đã nộp số tiền 50.000.000 đồng và ông Vũ Văn Q đã nộp số tiền 45.313.454 đồng để khắc phục thiệt hại xảy ra.

Buộc bị cáo Diệp Minh X, Vũ Văn Q, Hán Tấn Vĩnh A phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho nhà nước tương ứng với số tiền gây thiệt hại.

Tiếp tục tạm giữ số tiền Diệp M, Vũ Văn Q, Hán Tấn Vĩnh A nộp trong quá trình điều tra để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo Diệp Minh X không có ý thức tư lợi và đã bị xử lý kỷ luật về hành chính cùng với Vũ Văn Q và Hán Tấn Vĩnh A nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 229 BLHS.

Tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Ý kiến của các Luật sư bào chữa cho bị cáo: về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp nhưng đề nghị miễn hình phạt đối với bị cáo là không phù hợp với tính chất, đặc điểm riêng của vụ án này và tình hình tại địa phương nên không được chấp nhận.

Về án phí: bị cáo Diệp Minh X có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Diệp Minh X phạm tội “Vi phạm các quy định về quản lý đất đai”.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 229, điểm b, s, t, i, v khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Diệp Minh X 12 (Mười hại) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

* Biện pháp tư pháp: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, Điều 48 BLHS;

Buộc bị cáo Diệp Minh X nộp 100.000.000 đồng, ông Hán Tấn Vĩnh A nộp 50.000.000 đồng và ông Vũ Văn Q nộp 45.313.454 đồng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Diệp Minh X 100.000.000 đồng, ông Hán Tấn Vĩnh A 50.000.000 đồng và ông Vũ Văn Q 45.313.454 đồng đã nộp vào tài khoản của Công an tỉnh N tại Kho bạc nhà nước tỉnh Ninh Thuận theo các giấy nộp tiền 02/3/2023 tại Ngân hàng TMCP C Chi nhánh N1 để đảm bảo thi hành án.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N (PC03) có trách nhiệm chuyển số tiền này cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận để thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước.

- Về án phí: Bị cáo Diệp Minh X phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, Nguyên đơn dân sự, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29 - 8 – 2023). Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Cấp cao tại TP.HCM;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;

- VKSND tỉnh Ninh Thuận;

- Công an tỉnh Ninh Thuận;

- Cục THADS tỉnh Ninh Thuận;

Đã ký

- PV 27; VP CSĐT;

- Sở Tư pháp;

Lâm Bách

- Người tham gia tố tụng;

- Phòng KTNV-THA; HCTP;

- Lưu: án văn, hồ sơ./. Các thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Lâm Bách

Cỡ chữ