vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2022. (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 40 ngày 02/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày: 28/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Lê Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Lệ Thu;

2. Bà Trương Thị Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2023/HSST ngày 02/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức T, tên gọi khác: C, sinh năm 1998 tại Đ; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 16, ấp L, xã B 2, huyện T, tỉnh Đ; nơi cư trú: Tổ 16, ấp L, xã B 2, huyện T, tỉnh Đ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Chạy xe công nghệ; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn T và bà Đỗ Thị H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2022 - Có mặt.

Bị hại: Ông Trần Thanh L, sinh năm 2000; địa chỉ: 27/7 Tổ 9, Khu phố 5, thị trấn N, huyện B, Thành phố H - Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Thanh L1, sinh năm: 1971; địa chỉ: 27/7 Tổ 9, Khu phố 5, thị trấn N, huyện B, Thành phố H - Vắng mặt.

- 1 -

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, Nguyễn Đức T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 01 giờ ngày 29/11/2022, Nguyễn Đức T đi bộ lang thang tìm tài sản để trộm cắp, khi đến trước quán cà phê Phố, địa chỉ: không số, đường số 3, khu dân cư K, phường T, Quận 7, Thành phố H, T thấy có nhiều xe máy đậu trước quán, mọi người tập trung xem bóng đá. T lấy ghế giả vờ ngồi xem bóng đá với mọi người nhằm mục đích quan sát xung quanh. Lợi dụng mọi người tập trung xem đá bóng, không để ý, T lén lút đi đến chỗ xe máy hiệu Honda Winner, màu đen trắng, biển số 59Z1-425.14 của ông Trần Thanh L1 cắm sẵn chìa khóa, T lấy xe dẫn ra đường, nổ máy điều khiển tẩu thoát về thành phố T. Ông L phát hiện bị mất xe đã đến công an phường Tân Phong trình báo.

Chiếm đoạt được xe, T đăng bán xe trên nhóm mua bán xe máy “Xe noop” với giá 9.500.000 đồng, thì có tài khoản facebook “C” đồng ý mua và hẹn T đem xe đến khu vực Quốc lộ 51, tổ 1, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đ để giao dịch. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T đem xe xuống điểm hẹn, đang đứng chờ thì bị Tổ tuần tra Công an phường L kiểm tra hành chính và làm rõ nguồn gốc xe. T khai nhận vừa trộm cắp xe máy trên tại quán cà phê Phố, địa chỉ: không số, đường số 3, khu dân cư K, phường T, Quận 7.

Công an phường L lập hồ sơ và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố B, điều tra xác minh và chuyển hồ sơ cùng Nguyễn Văn T; vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Nguyễn Đức T đã thừa nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy trên.

Kết luận định giá tài sản số: 459/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 05/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân Quận 7, kết luận: 01 Honda Winner màu trắng, biển số 59Z1- 425.14, có giá trị 35.800.000 đồng (Ba mươi lăm triệu, tám trăm nghìn đồng).

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Winner, màu đen trắng, biển số 59Z1- 425.14, số khung RLHKC2607KY003890, số máy KC26E1262635, xe do ông Trần Thanh L1 đứng tên chủ sở hữu, ông L1 cho con trai là ông Trần Thanh L làm phương tiện đi lại. Ngày 29/11/2022, ông L sử dụng xe thì bị T trộm cắp. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả xe cho ông Trần Thanh L1.

- Thu giữ của T 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen đã qua sử dụng.

- 2 -

Về dân sự: Ông Trần Thanh L và ông Trần Thanh L1 đã nhận lại xe máy hiệu Honda Winner, màu đen trắng, biển số 59Z1-425.14 và không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số: 35/CT-VKSQ7 ngày 02/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Về dân sự: Ông Trần Thanh L và ông Trần Thanh L1 đã nhận lại xe máy hiệu Honda Winner, màu đen trắng, biển số 59Z1-425.14 và không yêu cầu gì thêm.

Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- 3 -

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 01 giờ ngày 29/11/2022, tại địa chỉ không số, đường số 3, khu dân cư K, phường T, Quận 7, Nguyễn Đức T thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt xe máy hiệu Honda Winner, màu đen trắng, biển số 59Z1-425.14 của ông Trần Thanh L. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 459/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 05/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân Quận 7, kết luận: 01 Honda Winner màu trắng, biển số 59Z1- 425.14, có giá trị 35.800.000 (Ba mươi lăm triệu, tám trăm nghìn) đồng.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.

Bị cáo phạm tội là do lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, để có tiền tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Thanh L và ông Trần Thanh L1 đã nhận lại xe máy hiệu Honda Winner, màu đen trắng, biển số 59Z1-425.14 và không có yêu cầu gì khác. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Winner, màu đen trắng, biển số 59Z1- 425.14, số khung RLHKC2607KY003890, số máy KC26E1262635, xe do ông Trần Thanh L1 đứng tên chủ sở hữu, ông L1 cho con trai là ông Trần Thanh L làm phương tiện đi lại. Ngày 29/11/2022, ông L sử dụng xe thì bị T chiếm đoạt. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả xe cho ông Trần Thanh L1 là có căn cứ, nên không xét.

- 4 -

- Thu giữ của T 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng chiếc điện thoại này để nhằm làm công cụ với mục đích tiêu thụ tài sản trộm cắp mà có nên cần tịch thu tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2022.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 cái điện thoại di động oppo, màu đen, imei 1: 869904059842869, emei 2: 869904059892888 (cũ, không kiểm tra chi tiết máy bên trong).

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 40 ngày 02/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7).

3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

- 5 -

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ