- Tranh chấp gì? án hình sự — "ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ các: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; 38; 58 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YM TỈNH HY | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------------------------- Bản án số: 35 /2023/HS-ST Ngày 27/ 4 /2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HUYỆN YM, TỈNH HY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Vũ Minh Đón
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YM tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YM, tỉnh HY xét xử C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 04 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34 / 2023/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 04 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1981. Giới tính: Nam; Sinh trú quán: Tổ dân phố NL, phường PCK, thị xã MH, tỉnh HY; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không; Con ông Nguyễn Xuân D ( tên gọi khác là Hoàng D), đã chết và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1932; Vợ là chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 15/7/2003, Nguyễn Xuân H bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào ( nay là thị xã Mỹ Hào ), tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong bản án ngày 06/9/2010); Ngày 11/11/2019, Nguyễn Xuân H bị Tòa án nhân dân thị xã MH áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chấp hành xong ngày 05/10/2021). Bị cáo Nguyễn Xuân H bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2022 tại trại tạm giam C an tỉnh Hưng Yên, có mặt tại phiên tòa.
2/ Họ và tên: Khúc Tám C, sinh năm 1989. Giới tính: Nam. Sinh trú quán: thôn CQ, xã CX, thị xã MH, tỉnh HY; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ: Không; Con ông Khúc Văn C, sinh năm 1937 và bà Vương Thị Minh N, sinh năm 1958; Vợ là chị Lưu Thị T, sinh năm 1993; Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 26/7/2022, Khúc Tám C bị C an xã CX, thị xã MH xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy ( chấp hành xong ngày 21/10/2022 ); Ngày 18/11/2022, Khúc Tám C bị C an xã CX, thị xã MH xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy ( chấp hành xong ngày 13/02/2023 ); Ngày 28/11/2022, Khúc Tám C bị Ủy ban nhân dân xã CX, thị xã MH áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đang chấp hành thì bị bắt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy này).
Nhân thân: Ngày 15/5/2007, Khúc Tám C bị Tòa án nhân dân huyện MH ( nay là thị xã MH ), tỉnh HY xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội Trộm cắp tài sản ( chấp hành xong bản án ngày 06/9/2010 ). Ngày 18/10/2019, Khúc Tám C bị Tòa án nhân dân thị xã MH áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ( chấp hành xong ngày 24/10/2021 ). Bị cáo C bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2022 tại Trại tạm giam C an tỉnh Hưng Yên, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo H và C: Bà Nguyễn Thị Trang - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên (có mặt)
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Trú tại: Tổ dân phố Ngọc Lập, phường PCK, thị xã MH, tỉnh HY.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H và Khúc Tám C là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 17/12/2022 C rủ H đi mua ma túy về cùng sử dụng, C có 50.000 đồng, H có 250.000 đồng, C dùng điện thoại Redmi 5G màu đen có gắn thẻ Viettel, số thuê bao 0989687022 gọi điện thoại cho người bạn tên là Đ để hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy Heroin, Đ hẹn C đến khu vực đường 382, địa phận thôn TH, xã LTK, huyện YM. C điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius màu vàng đen, biển số 89H1 – 08550 chở H đi đến 01 cửa hàng bán thuốc thuộc địa phận xã HL, thị xã MH, C mua 01 xilanh nhựa và 01 lọ nước cất novocain, rồi tiếp tục chở H đi đến đoạn đường 382 địa phận thôn Tổ Hỏa, xã LTK, thì nhìn thấy và đi theo Đ vào trong ngõ xóm gần đó. Tại đây, H đưa 300.000 đồng cho Đ, Đ cầm tiền và đưa cho H 01 gói giấy bên trong có chứa chất ma túy rồi Đ điều khiển xe mô tô rời đi. C điều khiển xe mô tô chở H ngồi sau cầm gói ma túy đi tìm chỗ sử dụng, khi đến đoạn đường 382, địa phận thôn TH, Xã LTK, thì bị Công an xã LTK kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại tay trái Nguyễn Xuân H đang cầm 01 gói giấy màu trắng, kích thước khoảng 0,5cm x 1,5cm, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, niêm phong ký hiệu M1; Thu tại túi áo khoác H đang mặc 01 xilanh nhựa chưa sử dụng; Thu tại tay phải H đang cầm 01 điện thoại Redmi 5G màu đen, bên trong có gắn 01 sim viettel; Thu tại túi quần phía trước bên trái H đang mặc 01 điện thoại di động Redmi 9C màu xanh, bên trong gắn 01 sim viettel và 01 sim vinaphone; Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của C 01 xilanh nhựa và 01 lọ nước cất novocain chưa sử dụng; Thu giữ 01 xe mô tô Yamaha Sirius RC màu vàng đen, biển số 89H1 – 08550.
Cùng ngày Công an xã LTK đã bàn giao hồ sơ, vật chứng cùng đối tượng bị bắt cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện YM giải quyết theo thẩm quyền. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân H và Khúc Tám C không thu giữ phát hiện được gì.
Tại Kết luận giám định số 32/KL-KTHS(MT), ngày 20/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HY kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột, trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối lượng 0,169g (không phẩy một sáu chín gam), là ma túy loại Heroin; Hoàn lại 0,151g Heroine, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ niêm phong mẫu gửi giám định, tất cả trong niêm phong ghi số 32/KL-KTHS(MT).
Quá trình điều tra không xác định được nhân, lai lịch của đối tượng bán ma túy cho C và H, nên không có căn cứ xử lý.
Bản cáo trạng số 38 /CT- VKS - YM ngày 10/ 04/ 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện YM truy tố bị cáo Khúc Tám C và Nguyễn Xuân H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Khúc Tám C và Nguyễn Xuân H cùng khai nhận, các bị cáo đều là người nghiện ma túy, ngày 17/12/2022 bị cáo C là người rủ bị cáo H cùng góp tiền đi mua ma túy để sử dụng, xi lanh và lọ nước cất novocain là do bị cáo C mua mang đi để khi mua được ma túy cả hai cùng trích, sau khi mau được ma túy, các bị cáo trên đường đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt, số ma túy thu giữ trên tay H chính là số ma túy hai bị cáo mua với giá 300.000 đồng, hai bị cáo cùng đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá lời khai của bị cáo tại phiên tòa, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Khúc Tám C và Nguyễn Xuân H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; 38; 58 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Khúc Tám C từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, bị cáo Nguyễn Xuân H từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù của hai bị cáo tính từ ngày 17/12/2022; Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, và án phí.
Trợ giúp viên Nguyễn Thị Trang bào chữa cho hai bị cáo có quan điểm: Hai bị cáo đều thuộc hộ nghèo, có ông là người có C với cách mạng, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, nên đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt thấp nhất, miễn toàn bộ án phí, cho hai bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng vắng mặt, bị cáo và Kiểm sát viên đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt người làm chứng. HĐXX xét thấy người làm chứng đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến kết quả xét xử vụ án, do vậy HĐXX căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người làm chứng.
Hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện YM, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện YM, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hai bị cáo khai nhận mục đích mua ma túy để sử dụng, khi đi tìm chỗ sử dụng thì bị bắt. Lời khai nhận tội của hai bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang tại bút lục 19
- 21, bản kết luận giám định bút lục 06, biên bản hỏi cung bị can Khúc Tám C 132 – 135, biên bản hỏi cung bị can Nguyễn Xuân H từ bút lục 172 - 177, ngoài ra còn phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/12/2022 tại đường 382 thôn TH, xã LTK, huyện YM, tỉnh HY, bị cáo Nguyễn Xuân H có hành vi cất giữ trái phép 0,169 gam, là ma túy, loại Heroin trên tay với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo C góp 50.000 đồng, là người trực tiếp liên hệ hỏi mua ma túy, chở bị cáo H, khi bắt quả tang bị cáo C đang điều khiển xe mô tô chở bị cáo H ở phía sau, hai bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng ma túy là trái pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện, nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nên hành vi của hai bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố hai bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, hai bị cáo có ông là người có C với cách mạng, thuộc hộ nghèo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Hai bị cáo đều là người có nhân thân xấu, đều đã bị xét xử và áp dụng biện pháp hành chính và xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng các bị cáo không lấy đây là bài học để tự rèn luyện bản thân, tu dưỡng đạo đức, để là người có ích cho gia đình và xã hội. Các bị cáo thể hiện là người coi thường các chế tài của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra, tiếp tục sử dụng ma túy với hình thức trích, do vậy nay cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cơ quan chức năng, tiếp tục, cải tạo, giáo dục các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Hai bị cáo thuộc hộ nghèo, không có nghề nghiệp, không nguồn thu nhập ổn định, không có tài sản tích lũy, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo.
Về vai trò của hai bị cáo: Trong vụ án này hai bị cáo là đồng phạm với nhau, nhưng là đồng phạm giản đơn, bị cáo C là người khởi xướng, là người liên lạc với người bán và trực tiếp chở bị cáo H đi mua ma túy, nên bị cáo C có vai trò cao hơn bị cáo H.
Về biện pháp tư pháp:
Đối với phong bì mẫu hoàn lại sau giám định số 32/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,151 gam ma túy loại Heroin, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ niêm phong mẫu gửi giám định, là chất cấm lưu hành, vật không có giá trị, nay tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 02 chiếc xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất novocain là vật bị cáo sẽ dùng để trích ma túy, nay tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Redmi 5G kèm theo sim số 0989687022, bị cáo C đã dùng để liên lạc mua ma túy, nay tịch thu điện thoại sung ngân sách nhà nước, đối với sim số số 0989687022 tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại Redmi 9C màu xanh kèm 02 sim, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, nay hoàn trả bị cáo H.
Về án phí: Các bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho hai bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ các: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; 38; 58 Bộ luật hình sự.
2/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân H và bị cáo Khúc Tám C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
3/ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, bị cáo Khúc Tám C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù của hai bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/12/2022.
4/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu cho tiêu hủy phong bì mẫu hoàn lại sau giám định số 32/KL - KTHS(MT), bên trong có 0,151 gam ma túy loại Heroin, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 vỏ niêm phong mẫu gửi giám định; 02 chiếc xi lanh nhựa, 01 lọ nước cất novocain và 01 sim số 0989687022.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Redmi 5G
Hoàn trả bị cáo Nguyễn Xuân H 01 chiếc điện thoại Redmi 9C màu xanh kèm 02 sim.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện YM với Chi cục Thi hành án dân sự huyện YM.
5/ Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Khúc Tám C và bị cáo Nguyễn Xuân H.
6/ Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày xét xử sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKS, CA, THA huyện Yên Mỹ; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên; - Chi cục THADS huyện Yên Mỹ; - UBND phường PH Chí Kiên, xã Cẩm Xá, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Xuân Quỳnh |