- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bạc Cầm T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Bạc Cầm Th phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN B Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày: 15-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G, TỈNH ĐIỆN B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình H
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Quang H
2. Bà Bạc Thị Thanh Th
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Phương Th - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện Tuần G, tỉnh Điện B tham gia phiên toà: Ông Lường Văn D - Kiểm sát viên.
Ngày 15/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B, Tòa án nhân dân huyện Tuần G mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2023/TLST-HS ngày 17/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HS ngày 02/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần G đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Bạc Cầm Th; tên gọi khác: Không; Sinh năm 1992 tại Tuần
G, Điện B; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Bản Chiềng Ch, thị trấn Tuần G, huyện Tuần G, tỉnh Điện B; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạc Cầm Ch sinh năm 1968, con bà Lò Thị Th - SN 1972; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án: 05 tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bị cáo đã từng 05 lần bị xét xử: Lần 1: Ngày 17/8/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Tuần G xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 35/2010/HSST, tổng hợp hình phạt là 33 tháng tù; lần 2: Ngày 23/10/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Tuần G xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 03/2014/HSST; lần 3: Ngày 10/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tuần G xử phạt 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 02/2015/HSST; lần 4: Ngày 16/3/2017, Tòa án nhân dân huyện Tuần G xử phạt 30 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 37/2027/HSST; lần 5: Ngày 25/5/2020, Tòa án nhân dân huyên Tuần G xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 17/6/2021 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống, hiện chưa được xóa án tích; bị bắt tạm giam từ ngày 02/11/2022 đến ngày xét xử, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Bị hại: Anh Vì A T, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Khối Thắng L, thị trấn Tuần G, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, vắng mặt có lý do.
- Cháu Vàng A V, sinh ngày 03/4/2008
Địa chỉ: Bản Háng Kh, xã Phình S, huyện Tuần G, tỉnh Điện B,
vắng mặt có lý do.
Đại diện theo pháp luật của Vàng A V: Anh Vàng A M, sinh năm 1990,
vắng mặt có lý do.
- Cháu Hạng Thị Kim Ng, sinh n 04/01/2011
Địa chỉ: Bản Háng Ch, xã Ta M, huyện Tuần G, tỉnh Điện B,
vắng mặt có lý do.
Đại diện theo pháp luật của Hạng Thị Kim Ng: Anh Hạng A K, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Bản Háng Ch, xã Ta M, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, vắng
mặt có lý do.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị H, sinh năm 1984
Địa chỉ: Bản Tân L, thị trấn Tuần G, huyện Tuần G, tỉnh Điện B,
vắng mặt có lý do.
- Bạc Cầm Ch, sinh năm 1969
Địa chỉ: Bản Tân L, thị trấn Tuần G, huyện Tuần G, tỉnh Điện B,
vắng mặt có lý do.
4. Người có nghĩa vụ liên quan:
- Bùi Đăng N, sinh năm 1981
Địa chỉ: Khối Thắng L, thị trấn Tuần G, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, vắng mặt
không có lý do.
-Nguyễn Trọng H, sinh năm 1996
Địa chỉ: Bản Pom B, xã Quài T, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, vắng
mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 28/10/2022, Bạc Cầm Th một mình điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Taurus-sr màu sơn: Đỏ - đen, BKS 27Z1-002.82 (là xe máy của bố đẻ bị cáo ông Bạc Cầm C) đi từ nhà tại bản Chiềng Ch, thị trấn Tuần G đến khu vực khối Thắng L, thị trấn Tuần G, huyện Tuần G, tỉnh Điện B nhằm mục đích xem gia đình nào sơ hở thì trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến khối Thắng L, Thanh phát hiện nhà anh Vì A T, sinh năm 1994, trú tại khối Thắng L, thị trấn Tuần G, huyện Tuần G đang mở cổng và cửa nhà, quan sát thấy trên mặt bàn uống nước trong phòng khách có để 01 chiếc máy tính xách tay và trong nhà không có ai nên Th nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy vi tính trên.
Thanh điều khiển xe máy quay lại cách cổng nhà khoảng 10m thì dừng lại sau đó đi bộ vào phòng khách, Th đã dùng 2 tay lấy chiếc máy vi tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Dell Inspiron 3542 có giá trị 4.000.000 đồng của anh Vì A T đang để trên mặt bàn uống nước. Khi đi ra đến sân do sợ có người phát hiện nên Th đã để chiếc máy tính xách tay vừa trộm được vào phía trước bụng rồi kéo áo khoác đang mặc phủ lên. Sau đó Th điều khiển xe máy mang theo chiếc máy tính xách tay vừa trộm cắp được đi tìm người để bán.
Khi đi đến cổng chào thuộc khối Thắng Lợi gần trường cấp 3 thị trấn Tuần G, Th làm rơi chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen loại có bàn phím xuống đường, do điện thoại đã bị hỏng nên Th không quay lại nhặt (đối với chiếc điện thoại này đã do anh Bùi Đăng N, sinh năm 1981 trú tại khối Thắng L, thị trấn Tuần G, huyện Tuần G, tỉnh Điện B nhặt được và anh N đã giao nộp cho cơ quan điều tra). Sau đó Th tiếp tục điều khiển xe máy đi về hướng xã Quài T, khi đi đến khu vực ngã ba đường mới thuộc khu vực thị trấn Tuần G thì Th nhặt một chiếc túi nilon có quai màu xanh rồi cho chiếc máy tính xách tay vào và treo vào móc phía trước của xe máy. Khi đến bản Ch, xã Quài T, huyện Tuần G, Th dừng lại mở cốp xe lấy chiếc áo mưa màu xanh, xám, đen dùng để bọc chiếc máy tính lại rồi tiếp tục đi về hướng xã Quài T.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi Th đi tới khu vực bản Pom B, xã Quài T, huyện Tuần G thì gặp anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1966, trú tại bản Pom B, xã Quài T đang tưới hoa. Th dừng xe lại hỏi anh H có mua máy tính không nhưng anh H nói không mua và bảo Th đem trả lại máy tính. Do sợ bị phát hiện nên Th đã mang chiếc máy tính xách tay vứt vào xe đẩy rác ở trên đường thuộc khu vực bản Pom B, xã Quài T, huyện Tuần G sau đó Th đi về nhà. Cơ quan CSĐT đã tiến hành truy tìm chiếc máy tính xách tay trên nhưng không thu hồi được.
Ngoài ra quá trình điều tra xác định vào khoảng 13 giờ ngày 26/10/2022 tại khu vực phòng trọ thuộc khối Trường X, thị trấn Tuần G, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, Bạc Cầm Th đã lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 vỏ nhựa màu đen loại có bàn phím bên trong có lắp sim 01 sim điện thoại di động nhà mạng Viettel số thuê bao 0328.625.242 trị giá 210.000 đồng của anh Vàng A V đang để trên đầu giường ngủ trong phòng trọ. Sau khi lấy được chiếc điện thoại Th đã tháo sim ra và giữ lại còn chiếc điện thoại. Đến ngày 30/10/2022 Th đã mang bán cho chị Trần Thị H chủ cửa hàng điện thoại di động Xuân T thuộc khối Thắng L, thị trấn Tuần G được 70.000 đồng, số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 31/10/2022, chị H đã bán chiếc điện thoại di động này cho một người phụ nữ không quen biết với giá 160.000 đồng nên CSĐT không thu hồi được.
Khoảng 07 giờ ngày 31/10/2022, tại khu vực phòng trọ thuộc Xóm 1, khối Tân G, thị trấn Tuần Giáo Bạc Cầm Th đã lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 vỏ nhựa màu đen loại có bàn phím, màn hình có một vết nứt bên trong có lắp 01 sim điện thoại di động nhà mạng Viettel số thuê bao 0347.645.864 trị giá 130.000 đồng của cháu Hạng Thị Kim Ng đang để ở mặt bàn gỗ đựng xong nồi cạnh cửa sổ, sau khi lấy trộm được chiếc điện thoại Th đã đem chiếc điện thoại về nhà cất giấu.
Như vậy từ ngày 26/10/2022 đến ngày 31/10/2022, Bạc Cầm Th đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có tổng trị giá 4.340.000 đồng nhằm mục đích để tiêu dùng cá nhân.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 vỏ nhựa màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng của cháu Vàng A V có giá trị là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng); 01 sim điện thoại di động kèm theo máy có giá trị là 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 15/KL-HĐĐGTS ngày 01/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản, kết luận: 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 3542 màu đen, kịch thước màn hình 15,6 in đã qua sử dụng của bị hại anh Vì A T có giá trị là 4000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 01/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105, TA 1174 màu đen, mặt kính có vết nứt đã qua sử dụng của cháu Hạng Thị Kim Ng có giá trị là 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng); 01 sim điện thoại di động có số thuê bao: 0347.645.864 giá trị là 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).
Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Vì mục đích muốn có tiền tiêu sài cá nhân nên ngày 28/10/2022, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc máy tính sách tay của anh Vì A T có giá trị là 4.000.000 đồng. Ngoài ra vào ngày 26/10/2022, Bạc Cầm Th còn lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 trị giá 210.000 đồng của cháu Vàng A V và ngày 31/10/2022, Bạc Cầm Th còn lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 trị giá 130.000 đồng của cháu Hạng Thị Kim Ng Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.
Quan điểm, ý kiến của bị hại anh Vì A T tại cơ quan điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt: Anh giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra. Do sơ hở trong công tác quản lý tài sản nên vào ngày 28/10/2022 gia đình anh đã bị mất trộm chiếc máy tính sách tay có giá trị là 4.000.000 đồng, hiện chưa thu hồi được, anh yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 4.000.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự anh đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Quan điểm, ý kiến của bị hại cháu Hạng Thị Kim Ng và người đại diện theo pháp luật anh Hạng A K tại cơ quan điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt: Vẫn giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra. Về tài sản trộm cắp là chiếc điện thoại Nokia đã bị Th trộm cắp đã được cơ quan điều tra trao trả lại, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, cháu Ng, anh K đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Quan điểm, ý kiến của bị hại cháu Vàng A V và người đại diện theo pháp luật anh Vàng A M tại cơ quan điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt: Vẫn giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra. Về tài sản trộm cắp là chiếc điện thoại Nokia đã bị Thanh trộm cắp không thu hồi được, cháu V, anh M yêu cầu bồi thường số tiền 200.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự, cháu V, anh M đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bạc Cầm Ch là bố bị cáo Th. Ông là chủ sở hữu của chiếc xe máy biển kiểm soát 27Z1-002.82, ông không biết bị cáo Th dùng xe để trộm cắp tài sản, quá trình điều tra ông đã được trao trả chiếc xe máy trên, ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Về trách nhiệm hình sự, ông đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị H là người mua chiếc điện thoại Nokia mà bị cáo Th bán cho với giá 70.000 đồng. Chị H không biết đây là tài sản trộm cắp mà có, chị H đã bán chiếc điện thoại cho người khác nên cơ quan điều tra không thu hồi được. Chị không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 70.000 đồng.
Lời khai của người có nghĩa vụ liên quan Bùi Đăng N tại cơ quan điều tra: Anh N đã nhặt được chiếc điện thoại bị cáo đánh rơi và hiện anh đã giao nộp cho cơ quan điều tra. Đối với anh Nguyễn Trọng H là người mà ngày 28/10/2022 bị cáo đã hỏi bán chiếc máy tính xách tay trộm cắp cho anh H nhưng anh H nói không mua và khuyên bị cáo đem trả lại máy tính khiến bị cáo sợ hãi mang máy tính xách tay bỏ vào xe đẩy rác ở ven đường thuộc khu vực bản Pom B, xã Quài T, huyện Tuần G, hiện chiếc máy tính trên không thu hồi được.
Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKSTG ngày 17/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G đã truy tố bị cáo Bạc Cầm Th về tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G giữ quyền công tố luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bạc Cầm Th từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị chấp nhận việc bị hại cháu Hạng Thị Kim Ng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bạc Cầm Ch, chị Trần Thị H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì khác. Bị cáo phải bồi thường cho bị hại anh Vì A T số tiền 4.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại Vàng A V số tiền 200.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Căn cứ Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu đen loại có khóa kéo đã cũ, sau lưng có chữ T và B màu trắng lồng vào nhau, phía trước ngực có chữ B màu trắng và T màu đỏ lồng vào nhau; 01 quần lửng màu xám vàng đã cũ; 01 đôi dép lê xốp, đế màu đen quai màu xám đã cũ; 01 mũ bảo hiểm xe máy màu xám loại có lưỡi trai đã cũ, trên mũ có hình thỏ gấu ôm nhau; 01 áo mưa màu xanh- xám-đen có kéo khóa và có cúc bấm đã cũ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ nhựa màu đen đã qua sử dụng, mặt kính màn hình bị vỡ, nắp lưng bị mất. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 70.000 đồng do phạm tội mà có.
Bị cáo không bào chữa cho hành vi của mình, hoàn toàn nhất trí với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có quan điểm tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 14 giờ ngày 28/10/2022, tại nhà anh Vì A T, sinh năm 1994 trú tại khối Thắng L, thị trấn Tuần G, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, Bạc Cầm Th đã lén lút lấy trộm 01 chiếc máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Dell Inspiron 3542 có giá trị 4000.000đ của anh Vì A T. Ngoài ra vào ngày 26/10/2022, Bạc Cầm Th còn lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 trị giá 210.000 đồng của cháu Vàng A V và ngày 31/10/2022, Bạc Cầm Th còn lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 trị giá 130.000 đồng của cháu Hạng Thị Kim Ng. Tổng giá trị tài sản mà bị can Bạc Cầm Th đã trộm cắp là 4.340.000 đồng, nhằm mục đích để tiêu dùng cá nhân, bị cáo phạm tội trong trường hợp đã có 05 tiền án chưa được xóa án tích.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng: Đơn trình báo (BL số 68, 78, 85) Biên bản làm việc, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường (BL 118-155); Biên bản nhận dạng, bản ảnh nhận dạng (BL 156-159); Biên bản khám xét (BL 161-162); Biên bản nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử (BL 164-165); Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2023 (BL187-189), Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 01/11/2022 (BL197-199), Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 01/01/2022 (BL207-209); các Biên bản ghi lời khai; Bản tự khai; Biên bản hỏi cung bị cáo Bạc Cầm Th; Biên bản ghi lời khai của các bị hại Vàng A V, Vì A T, Hạng Thị Kim Ng; Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị H, Bạc Cầm Ch cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã trộm cắp tài sản gia đình bị hại anh Vì A T có giá trị 4.000.000 đồng, trộm cắp của bị hại cháu Hạng Thị Kim Ng 01 chiếc điện thoại Nokia 105 kèm sim điện thoại có có giá trị là 130.000 đồng, trộm cắp của bị hại cháu Vàng A V 01 chiếc điện thoại Nokia 105 và 01 sim điện thoại có giá trị là 210.000 đồng, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 4.340.000 đồng, bị cáo phạm tội trong trường hợp đã tái phạm chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Bạc Cầm Th sinh ra và lớn lên tại huyện Tuần G, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã từng 05 lần xét xử: Lần 1: Ngày 17/8/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Tuần G xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 35/2010/HSST, tổng hợp hình phạt là 33 tháng tù; lần 2: Ngày 23/10/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Tuần G xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 03/2014/HSST; lần 3: Ngày 10/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tuần G xử phạt 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 02/2015/HSST; lần 4: Ngày 16/3/2017, Tòa án nhân dân huyện Tuần G xử phạt 30 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 37/2027/HSST; lần 5: Ngày 25/5/2020, Tòa án nhân dân huyên Tuần G xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 17/6/2021 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống. Bị cáo phạm tội trong trường hợp đã tái phạm chưa được xóa án tích lại phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
HĐXX xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để lần nữa cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần được chấp nhận
Về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Bị cáo đã gây thiệt hại về tài sản cho các bị hại do vậy, HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Vì A t số tiền 4.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại Vàng A V số tiền 200.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bạc Cầm Ch đã được nhận lại chiếc xe máy mà bị cáo đã dùng làm phương tiện trộm cắp tài sản, ông Ch không yêu cầu bồi thường về dân sự, chị Trần Thị H đã mua chiếc điện thoại trộm cắp của bị hại Vàng A V với giá 70.000 đồng và chị đã bán chiếc điện thoại cho một người khác, chị không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự; bị hại Hạng Thị Kim Ng đã nhận lại tài sản trộm cắp, bị h Ng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì khác, HĐXX căn cứ Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Chấp nhận ý kiến của ông Ch, chị H và cháu Hạng Thị Kim Ng.
. Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ của Bạc Cầm Th gồm: 01 áo khoác dài tay màu đen loại có khóa kéo đã cũ, sau lưng có chữ T và B màu trắng lồng vào nhau, phía trước ngực có chữ B màu trắng và T màu đỏ lồng vào nhau; 01 quần lửng màu xám vàng đã cũ; 01 đôi dép lê xốp, đế màu đen quai màu xám đã cũ; 01 mũ bảo hiểm xe máy màu xám loại có lưỡi trai đã cũ, trên mũ có hình thỏ gấu ôm nhau; 01 áo mưa màu xanh- xám- đen có kéo khóa và có cúc bấm đã cũ; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Taurus-sr, màu sơn đỏ - đen, BKS 27Z1-002.82; 01 chiếc điện thoại Nokia 105, vỏ nhựa màu đen, màn hình có 01 vết nứt bên trong lắp sim Viettel số thuê bao 0347.645.864; 01 sim điện thoại di động của nhà mạng Viettel số thuê bao 0328.625.242.
Thu giữ của anh Bùi Đăng N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ nhựa màu đen, mặt kính màn hình bị vỡ, nắp lưng bị mất. Quá trình điều tra, Cơ quan Công an huyện Tuần G đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại tài sản gồm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Taurus-sr, màu sơn đỏ - đen, BKS 27Z1-002.82 cho ông Bạc Cầm Châm; trả lại 01 chiếc điện thoại Nokia 105, vỏ nhựa màu đen, màn hình có 01 vết nứt bên trong lắp sim điện thoại di động nhà mạng Viettel số thuê bao số 0347.645.864 cho cháu Hạng Thị Kim Ng; trả lại 01 sim điện thoại di động của nhà mạng Viettel số thuê bao 0328.625.242 cho cháu Vàng A V là chủ sở hữu tài sản. Ông Bạc Cầm Ch, cháu Ng, cháu V và người đại diện theo pháp luật nhất trí không có ý kiến gì, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ Luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận việc trả lại các tài sản nêu trên.
Đối với các vật chứng thu giữ của bị cáo Th gồm: Áo, quần lửng, 01 đôi dép lê, 01 mũ bảo hiểm xe máy, 01 áo mưa xanh xám xét thấy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; chiếc điện thoại của bị cáo đánh rơi không liên quan đến vụ án, bị cáo khai điện thoại đã hỏng và không muốn nhận lại, do vậy cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 70.000 đồng bán điện thoại cho chị Trần Thị Th, xét thấy đây là khoản tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Căn cứ Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu đen loại có khóa kéo đã cũ, sau lưng có chữ T và B màu trắng lồng vào nhau, phía trước ngực có chữ B màu trắng và T màu đỏ lồng vào nhau; 01 quần lửng màu xám vàng đã cũ; 01 đôi dép lê xốp, đế màu đen quai màu xám đã cũ; 01 mũ bảo hiểm xe máy màu xám loại có lưỡi trai đã cũ, trên mũ có hình thỏ gấu ôm nhau; 01 áo mưa màu xanh, xám, đen có kéo khóa và có cúc bấm đã cũ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ nhựa màu đen đã qua sử dụng, mặt kính màn hình bị vỡ, nắp lưng bị mất. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 70.000 đồng do phạm tội mà có.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ làm lao động tự do, bị cáo không có tài sản, là người nghiện ma túy nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Các vấn đề khác: Đối với anh Bùi Đăng N chỉ là người nhặt điện thoại do bị cáo đánh rơi, anh Nguyễn Trọng H có gặp bị cáo và khuyên bị cáo đem tài sản trộm cắp trả lại, xét thấy anh N, anh H không có lỗi, HĐXX không đặt vấn đề xử lý.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Về tội danh: Bị cáo Bạc Cầm Th phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Bạc Cầm Th: 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 02/11/2022.
3. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại anh Vì A T số tiền 4.000.000 đồng, bồi thường cho bị hại Vàng A V số tiền 200.000 đồng. Chấp nhận việc bị hại cháu Hạng Thị Kim Ng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bạc Cầm Ch, chị Trần Thị H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì khác.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu đen loại có khóa kéo đã cũ, sau lưng có chữ T và B màu trắng lồng vào nhau, phía trước ngực có chữ B màu trắng và T màu đỏ lồng vào nhau; 01 quần lửng màu xám vàng đã cũ; 01 đôi dép lê xốp, đế màu đen quai màu xám đã cũ; 01 mũ bảo hiểm xe máy màu xám loại có lưỡi trai đã cũ, trên mũ có hình thỏ gấu ôm nhau; 01 áo mưa màu xanh, xám, đen có kéo khóa và có cúc bấm đã cũ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ nhựa màu đen đã qua sử dụng, mặt kính màn hình bị vỡ, nắp lưng bị mất. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 70.000 đồng do phạm tội mà có (Chưa thu).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được Công an huyện Tuần G bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần G hồi 16 giờ 37 phút, ngày 22 tháng 02 năm 2023)
5. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 15/3/2023); bị hại anh Vì A T, cháu Vàng A V, cháu Hạng Thị Kim Ng; đại diện cho bị hại: Anh Hạng A K, anh Vàng A M được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Hương, ông Bạc Cầm Châm được quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện B; - VKSND tỉnh Điện B; - VKSND huyện Tuần G; - Công an huyện Tuần G (3); - Sở Tư pháp tỉnh Điện B; - THA DS TG, THA HS; - Bị cáo; bị hại; NCQL, NVLQ; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM HỘI THẨM Nguyễn Duy Lâm Phạm Hữu Chiến | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình H THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà |