vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/11/2022. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy đối với: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày 29 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Viết Hoan

Ông Lê Đăng Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2023 Tòa án nhân dân huyện Tho Xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại: Đ: Phòng xét xử

- Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân và Đ cầu thành phần: Nhà tạm giữ - Công an huyện T;

Đối với bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh ngày 06 tháng 3 năm 1985 tại: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị L1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 23/7/2007, bị Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 năm tù về tội “Giết người” và tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 11/6/2012.

- Ngày 06/12/2018, bị Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Đe doạ giết người”, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 27/10/2019.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2022 đến nay; Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

2. Nguyễn Văn L, sinh năm 1955, địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

3. Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960, địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

4. Phạm Thị D, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

5. Lê Đăng T1, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

6. Trần Thị Thùy T2, sinh năm 1999, địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

7. Nguyễn Bá T3, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

8. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 22/11/2022 tại nhà ông Nguyễn Văn L ở thôn H, xã T, huyện T tổ chức liên hoan công thợ (đổ mái tầng một làm nhà cho Nguyễn Văn T, là con trai ông L). Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi liên hoan uống rượu xong thì tổ thợ ra về hết, bà Nguyễn Thị L1 (vợ ông L) và bà Nguyễn Thị H1 (chị gái ông L) đi ra nhà thờ Q1, sau đó ông L cũng điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen - bạc, gắn biển kiểm soát 36D1-509.50 đi ra nhà thờ. Khi ông L đang quay xe thì Nguyễn Văn H hỏi mượn xe máy đi chơi, nhưng ông L không đồng ý, do thấy H đã say rượu.

Sau khi ông L đi, tại bàn uống nước ở sân nhà, giữa hai anh em H và T xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. T nói H “vô tích sự, nát rượu mà cứ đòi mượn xe bố”. H và T chửi nhau, thì T dùng tay phải cầm điếu hút thuốc lào lấy ở cạnh bàn giơ lên định đánh H, nhưng được bà Nguyễn Thị T4 (chị gái ông L) can ngăn, nên T ném điếu xuống sân. H và T tiếp tục chửi nhau thì bà T4 và chị Phạm Thị D (vợ T) can ngăn. T chửi H là “đồ con chó” khiến Hoàng tức lên, dùng tay phải cầm 01 cái ghế nhựa ở sân vụt một cái từ phải sang trái về phía T, nhưng chị D và bà T4 đứng chắn can ngăn nên chiếc ghế vụt trúng vào tay trái của chị D. Bà T4 và chị D can ngăn đẩy H lên trên hè nhà. T thấy vợ bị đánh thì dùng tay phải cầm chiếc ấm sứ pha trà trên bàn đi lại đập vào đầu H hai cái khiến chiếc ấm bị vỡ, H bị rách da chảy máu vùng đỉnh đầu bên trái. H túm lấy tay trái T, rồi dùng răng cắn vào ngón giữa bàn tay trái của T. Lúc này anh Lê Đăng T1, chị Trần Thị Thùy T2 là hàng xóm vào can ngăn. T2 đẩy T đi sang nhà T2, còn T1 ôm giữ đẩy H vào trong nhà. D thấy H hung hăng, sợ bị đánh nên cũng chạy sang nhà T2 để tránh. H bực tức vì bị T đánh, nên vằng ra khỏi tay T1 chạy vào bếp lấy 02 con dao, dạng dao thái dài khoảng 25-30cm màu tối rồi cầm chạy ra đường nhựa trước nhà tìm đánh lại T. Thấy H cầm dao thì người dân đang đứng trên đường bỏ chạy để tránh. H đi sang cổng nhà chị T2 thấy chị D đang trốn bên trong nhà, Hoàng định mở cổng vào tìm T, nhưng cửa cổng đóng nên không vào được. Hoàng quát yêu cầu chị D ra mở cửa, nhưng chị D không mở nên H đứng trên đường chửi bới. Lúc này, ông Nguyễn Văn Q đi qua thấy H cầm dao nên lại can ngăn, bảo H2 đưa dao cho mình nhưng H2 không đưa, mà cầm dao chém một cái về phía ông Q. Ông Q tránh được, do hoảng sợ nên ông Q đi về nhà. H2 đi về đến cổng nhà thấy bà L1 về thì nói: “Bà thích bênh cho nó không” rồi dùng chân đá một cái về phía bà L1 nhưng không trúng. Bà L1 sợ bị H2 đánh nên chạy vào nhà bế cháu Nguyễn Thảo L2 (con gái T) chạy sang nhà anh T1 để tránh. Lúc sau, ông L đi xe môtô về đến gần cổng nhà nhìn thấy thấy H2 tay cầm dao, sợ bị H2 đánh nên để xe lại trên đường rồi bỏ chạy. H2 bực tức vì trước đó ông L không cho mượn xe, nên dắt xe môtô của ông L vào để nằm ra sân. H2 tiếp tục cầm dao đi ra đường chửi bới, sau đó quay lại sân nhà ném 02 con dao thái xuống sân. H2 đi vào bếp lấy 01 con dao khác, màu trắng thường dùng để băm chặt, rồi quay ra sân nhặt lại 01 con dao thái vừa vứt xuống sân trước đó, tiếp tục cầm 02 con dao đi ra đường chửi bới. Khoảng 5 phút sau, H2 về nhà đi lại chỗ để xi măng ném con dao thái vào gầm kệ đặt xi măng, rồi cầm lấy con dao năm bên trên đống bao xi măng đi ra bàn uống nước. Nhận được tin báo của quần chúng Nhân dân, Công an xã T và anh Nguyễn Bá T3 đến, thấy H2 cầm dao thì anh T3 và anh Trịnh Xuân T5 (Phó Trưởng Công an xã T) can ngăn bảo Hoàng cất dao nói chuyện. H2 cầm dao đe dọa nếu ai vào là chém, rồi cầm dao đi sang quán nhà T2 dùng dao rựa chém hai cái và dùng chân đạp một cái vào cửa tôn của quán. Sau đó H2 đi về sân dùng dao rựa chém, đập phá phần đầu xe, yếm xe và hông bên phải xe môtô của ông L khiến các ốp nhựa vỡ. Sau đó H2 tiếp tục cầm dao đi ra đường chửi bới đòi tìm T đánh, thì bị anh T3 từ phía sau ôm giữ quật xuống đường, hai tay giữ hai cánh tay của H2. H2 trong tư thế nằm ngửa, tay vẫn cầm dao đánh hai cái trúng vào đầu và cánh tay trái của anh T3, thì bị lực lượng Công an xã T cùng người dân khống chế.

Ngày 24 tháng 11 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định trưng cầu giám định về thương tích đối với Nguyễn Văn H. Tại Kết luận giám định số: 1323/2022/TTPY, ngày 02/12/2022 của Trung tâm P: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Văn H được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 03% (Ba phần trăm). Nguyễn Văn H có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự và không truy cứu trách nhiệm hình sự Nguyễn Văn T, nên Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện T xử lý vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T về hành vi “Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Ngày 31 tháng 01 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định trưng cầu giám định về thương tích đối với Nguyễn Bá T3. Tại Kết luận giám định số: 196/2023/TTPY, ngày 06/02/2023 của Trung tâm P: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Bá T3 được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 02% (Hai phần trăm). Nguyễn Bá T3 có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự và không truy cứu trách nhiệm hình sự Nguyễn Văn H, nên Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện T xử lý hành chính về hành vi “Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với thương tích của Nguyễn Văn T và Phạm Thị D do Nguyễn Văn H gây ra, do thương tích nhẹ, không ảnh hưởng đến sức khoẻ nên Nguyễn Văn T và Phạm Thị D từ chối giám định thương tích và không đề nghị xử lý đối với Nguyễn Văn H.

Ngày 29/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 48/YC-CSĐT để xác định giá trị phần hư hỏng của chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 36D1-509.50. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 46/KL-HĐĐG, ngày 05/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Giá trị phần hư hỏng tại thời điểm bị xâm hại của chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ-đen-bạc, biển kiểm soát 36D1-509.50 là 1.452.000 đồng, nên đã chuyển Công an huyện T xử lý hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân” quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Về phần dân sự: Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Phạm Thị D và Nguyễn Bá T3 không có yêu cầu bồi thường gì về tổn hại sức khoẻ. Đối với phần cửa tôn nhà chị Trần Thị Thùy T2 bị vết đứt kim loại nhỏ, chị T2 không yêu cầu sửa chữa, để nguyên trạng sử dụng, không có yêu cầu đề nghị xử lý, bồi thường. Đối với phần hư hỏng của chiếc xe môtô biển kiểm soát 36D1 – 509.50, ông Nguyễn Văn L không có yêu cầu bồi thường.

Vật chứng của vụ án: Các mãnh vỡ sứ màu trắng có bám dính chất màu nâu (nghi máu); 01 (một) áo sơ mi màu xanh nhãn hiệu “Vinh Liên” có bám dích chất màu nâu (nghi máu), 01 (một) cúc áo màu xanh; 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng (loại dao thái), dài 34,5cm, nơi rộng nhất 8cm, lưỡi bằng, phần cán dao bằng gỗ màu vàng dài 13cm; 01 (một) con dao bằng kim loại màu xám đen (loại dao năm) dài 45cm, phần lưỡi dao bị sứt mẻ nhiều vị trí, cán dao dài 13cm, đường kính cán dao 02cm; Các mảnh vỡ nhựa dạng ốp ngoài xe mô tô màu đỏ; 01 (một) điếu cày ống tre màu vàng nâu, dài 59,5cm, đường kính 04cm, thân điếu bị vỡ, điếu không còn nỏ điếu; 01 (một) con dao dài 34cm, phần cán gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại nơi rộng nhất 4,5cm, một bên lưỡi dao sắc; 01 (một) ghế nhựa dạng ghế tựa màu trắng - cam, có vết nứt vỡ nhựa phần tựa. Vật chứng hiện đang được quản lý theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án, Nguyễn Văn H khai báo sử dụng 04 (bốn) con dao, quá trình bắt quả tang và khám nghiệm hiện trường cơ quan điều tra đã thu giữ 03 (ba) con dao xác định là hung khí H sử dụng, còn 01 (một) con dao dạng dao thái, dài khoảng 30cm. Theo lời khai của H đã vứt tại sân nhà mình, Cơ quan điều tra đã phối hợp Công an xã T tiến hành truy tìm, nhưng đến nay chưa có kết quả.

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSTX ngày 28/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, đ khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu là đúng và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không có ý kiến gì về các kết luận giám định, định giá tài sản.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử,

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, đ khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 30 đến 36 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy đối với:

- Các mãnh vỡ sứ màu trắng có bám dính chất màu nâu (nghi máu); 01 (một) áo sơ mi màu xanh nhãn hiệu “Vinh Liên” có bám dích chất màu nâu (nghi máu), 01 (một) cúc áo màu xanh. Đuợc niêm phong trong một thùng giấy dán kín có chữ ký của Trần Thị Thúy H3, Hà Thọ Đ1 và các hình dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh T.

- 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng (loại dao thái), dài 34,5cm, nơi rộng nhất 8cm, lưỡi bằng, phần cán dao bằng gỗ màu vàng dài 13cm; 01 (một) con dao bằng kim loại màu xám đen (loại dao năm) dài 45cm, phần lưỡi dao bị sứt mẻ nhiều vị trí, cán dao dài 13cm, đường kính cán dao 02cm. Hai con dao được bọc giấy kín, có chữ ký của Trần Thị Thúy H3, Hà Thọ Đ1 và các hình dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh T.

- Các mảnh vỡ nhựa dạng ốp ngoài xe mô tô màu đỏ;

- 01 (một) điếu cày ống tre màu vàng nâu, dài 59,5cm, đường kính 04cm, thân điếu bị vỡ, điếu không còn nỏ điếu;

- 01 (một) con dao dài 34cm, phần cán gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại nơi rộng nhất 4,5cm, một bên lưỡi dao sắc;

- 01 (một) ghế nhựa dạng ghế tựa màu trắng - cam, có vết nứt vỡ nhựa phần tựa.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo có ý kiến xin được giảm nhẹ mức hình phạt, được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa hôm nay, là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định, Kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 20 giờ đến 20 giờ 30 phút ngày 22/11/2022 Nguyễn Văn H đã có hành vi cầm theo hung khí (dao) la hét, chửi bới, đuổi đánh Nguyễn Văn T từ nhà ông Nguyễn Văn L ở thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ra đến ngoài đường liên xã, trên đoạn đường dài 50m. Khi được người dân can thiệp, Nguyễn Văn H còn có hành vi dùng dao tấn công người can thiệp bỏ chạy và gây thương tích cho người can thiệp Nguyễn Văn T6; Khiến những người thân trong gia đình H phải bỏ chạy sang hàng xóm để né tránh; làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân và hoạt động tham gia giao thông trên đoạn đường liên xã. Hành vi của Nguyễn Văn H đã làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo Nguyễn Văn H có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng; Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo chỉ vì có mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt gia đình thường ngày, giữa bị cáo với chính người thân trong gia đình mình, bị cáo đã không làm chủ được bản thân, mà manh động sử dụng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn, la hét, chửi bới, đuổi đánh nhau trên đường, gây nên hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; gây hoang mang lo sợ cho người dân địa phương. Bản thân bị cáo Nguyễn Văn H có nhân thân xấu, đã từng 02 lần bị Tòa án kết án phạt tù về các tội “giết người, cướp tài sản và đe dọa giết người”, bị cáo đã chấp hành án xong và đã được nhiên được xóa án tích, nhưng khi trở về địa phương sinh sống, bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà sống buông thả, bất chấp phạm luật tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý vụ án nghiêm minh, xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, bắt cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, cũng như đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của minh, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm hòa nhập với xã hội.

Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy: Cần thiết phải xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H bằng hình phạt tù, với mức án như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp hành hình phạt cho bị cáo. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 đĩa DVD-R và 01 địa CD-R do Cơ quan điều tra thu giữ có ghi lại dữ liệu video liên quan đến vụ án được niêm phong, hiện đang được lưu giữ theo hồ sơ vụ án, là phù hợp.

- Đối với: Các mãnh vỡ sứ màu trắng có bám dính chất màu nâu (nghi máu); 01 (một) áo sơ mi màu xanh nhãn hiệu “Vinh Liên” có bám dích chất màu nâu (nghi máu), 01 (một) cúc áo màu xanh; 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng (loại dao thái), dài 34,5cm, nơi rộng nhất 8cm, lưỡi bằng, phần cán dao bằng gỗ màu vàng dài 13cm; 01 (một) con dao bằng kim loại màu xám đen (loại dao năm) dài 45cm, phần lưỡi dao bị sứt mẻ nhiều vị trí, cán dao dài 13cm, đường kính cán dao 02cm; Các mảnh vỡ nhựa dạng ốp ngoài xe mô tô màu đỏ; 01 (một) điếu cày ống tre màu vàng nâu, dài 59,5cm, đường kính 04cm, thân điếu bị vỡ, điếu không còn nỏ điếu; 01 (một) con dao dài 34cm, phần cán gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại nơi rộng nhất 4,5cm, một bên lưỡi dao sắc; 01 (một) ghế nhựa dạng ghế tựa màu trắng - cam, có vết nứt vỡ nhựa phần tựa. Đây xác định là công cụ bị cáo sử dụng phạm tội và là các tài sản, đồ vật liên quan vụ án, hiện không còn giá trị, không sử dụng được, nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Về các tình tiết liên quan đến vụ án:

Đối với hành vi của Nguyễn Văn T gây thương tích cho Nguyễn Văn H với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 03%; Nguyễn Văn H gây thương tích cho Nguyễn Bá T3 với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 02%. Nguyễn Văn H và Nguyễn Bá T3 không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự, không yêu cầu bôi thường gì, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn H gây thương tích cho Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị D1. Do thương tích nhẹ, không ảnh hưởng đến sức khỏe, nên T và D1 từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý trách nhiệm, nên không xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn H dùng dao chém vào xe mô tô của ông Nguyễn Văn L và chém vào cửa tôn nhà chị Trần Thị Thùy T2, gây thiệt hại về tài sản, tuy nhiên thiệt hại không đáng kể, chưa đến mức xử lý trách nhiệm hình sự, ông L và chị T2 cũng không yêu cầu xử lý trách nhiệm, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, đ khoản 2 Điều 318; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự,

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 293, khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/11/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy đối với:

- Các mãnh vỡ sứ màu trắng có bám dính chất màu nâu (nghi máu); 01 (một) áo sơ mi màu xanh nhãn hiệu “Vinh Liên” có bám dích chất màu nâu (nghi máu), 01 (một) cúc áo màu xanh. Đuợc niêm phong trong một thùng giấy dán kín có chữ ký của Trần Thị Thúy H3, Hà Thọ Đ1 và các hình dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh T.

- 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng (loại dao thái), dài 34,5cm, nơi rộng nhất 8cm, lưỡi bằng, phần cán dao bằng gỗ màu vàng dài 13cm; 01 (một) con dao bằng kim loại màu xám đen (loại dao năm) dài 45cm, phần lưỡi dao bị sứt mẻ nhiều vị trí, cán dao dài 13cm, đường kính cán dao 02cm. Hai con dao được bọc giấy kín, có chữ ký của Trần Thị Thúy H3, Hà Thọ Đ1 và các hình dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh T.

- Các mảnh vỡ nhựa dạng ốp ngoài xe mô tô màu đỏ;

- 01 (một) điếu cày ống tre màu vàng nâu, dài 59,5cm, đường kính 04cm, thân điếu bị vỡ, điếu không còn nỏ điếu;

- 01 (một) con dao dài 34cm, phần cán gỗ dài 12,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại nơi rộng nhất 4,5cm, một bên lưỡi dao sắc;

- 01 (một) ghế nhựa dạng ghế tựa màu trắng - cam, có vết nứt vỡ nhựa phần tựa.

Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, hiện trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 38 ngày 12/5/2023.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ