- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày: 18/8/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Biền Ngân
2. Ông Trần Quang Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đàm Xuân Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 04/7/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1978, tại xã P, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: thôn H, xã P, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: bị cáo không biết đọc, viết; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và con bà Trần Thị N; có vợ và 4 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/4/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty TNHH XDTH H
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình T – Giám đốc
Địa chỉ: Tiểu khu 1, TT Đ , huyện T , tỉnh Quảng Bình
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Hoàng Văn L , sinh năm: 1986
Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt
Người làm chứng: Hoàng Thị T, thôn H, xã P, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 31/3/2023, trên đường đi làm phụ thợ xây về đến đoạn đường gần đồng ruộng thuộc thôn V, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, Nguyễn Văn L phát hiện 01 máy bơm nước, nhãn hiệu SUBMERSIBLE PUMP, Model BCTC-22-48, có dạng hình trụ, cao 60 cm, đường kính 20 cm, nặng 20kg, màu xám trắng; một đầu thân máy bơm có gắn dây điện màu đen, dài 9,5 mét của Công ty TNHH XDTH Hòa Cương không có người quản lý, trông coi nên đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. L dùng tay tháo rời máy bơm ra khỏi ống dẫn nước, sau đó bỏ máy bơm nước vào trong một bao tải lác màu trắng nhặt được ở gần đó rồi đặt lên xe mô tô và chở về nhà cất giấu nhằm mục đích sử dụng.
Quá trình điều tra xác định, máy bơm nước trên của Công ty TNHH XDTH Hòa Cương giao cho anh Hoàng Văn L, là Kỹ sư xây dựng, chỉ huy trưởng công trình quản lý, bảo quản tài sản.
- Ngày 04 tháng 4 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Quảng Trạch có Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS, kết luận: 01 máy bơm nước, nhãn hiệu SUBMERSIBLE PUMP, Model: BCTC-22-48, có dạng hình trụ, cao 60 cm, đường kính 20 cm, nặng 20kg, màu xám trắng; một đầu thân máy bơm có gắn dây điện màu đen, dài 9,5 mét, đã qua sử sử dụng, có giá tại thời điểm tháng 3 năm 2023 là 2.720.000 đồng.
Về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại: Ngày 28/4/2023, đại diện Công ty TNHH XDTH Hòa Cương và bị cáo Nguyễn Văn L đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường dân sự, bị cáo L bồi thường số tiền 200.000 đồng. Các bên đã giao nhận tiền đầy đủ.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý các vật chứng gồm:
- Thu giữ và trả lại cho anh Hoàng Văn L, là người quản lý hợp pháp 01 máy bơm nước, nhãn hiệu SUBMERSIBLE PUMP, Model: BCTC-22-48, có dạng hình trụ, cao 60 cm, đường kính 20 cm, nặng 20kg, màu xám trắng; một đầu thân máy bơm có gắn dây điện màu đen, dài 9,5 mét, đã qua sử sử dụng
- Thu giữ và trả lại cho chị Hoàng Thị T, là vợ của bị cáo Nguyễn Văn L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn nâu trắng, mang biển kiểm soát 73K1-1471, số máy 1818497, đã qua sử dụng; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số A0016620 mang tên Lê Anh D, nhãn hiệu HAĐOSIVA, biển số 73K2-1471, do Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 19/5/2000.
- Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch 01 bao lác màu trắng, mặt ngoài bao có ký hiệu CP966, đã qua sử dụng.
Cáo trạng số 33/CT-VKSQT ngày 05 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 36; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 15-18 tháng cải tạo không giam giữ. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bao lác màu trắng.
Tại phiên tòa, phía bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xem xét tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, rèn luyện tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Trạch, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và đại diện phía bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về cấu thành tội phạm: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận: khoảng 11 giờ ngày 31/3/2023, bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 máy bơm nước của Công ty TNHH XDTH H có giá trị 2.720.000 đồng. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo, lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật chứng đã thu hồi được và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cùng các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nói chung, gây khó khăn cho phía bị hại trong quá trình thi công, phần nào ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành của công trình. Bị cáo đã có gia đình, lẽ ra phải tích cực lao động để tạo ra thu nhập để lo cuộc sống gia đình nhưng vì coi thường pháp luật nên đã dẫn đến hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần thiết phải bị xử lý nghiêm với hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật cho bị cáo.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và nhận thức được việc làm sai trái của mình; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả sau khi phạm tội; tại phiên tòa phía bị hại có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để quyết định cho bị cáo một mức án phù hợp.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Văn L ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình và cũng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét bị cáo Nguyễn Văn L thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn vì vậy Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận với nhau về vấn đề dân sự trong vụ án. Trong quá trình điều tra cho đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 máy bơm nước, nhãn hiệu SUBMERSIBLE PUMP Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch đã xác minh và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn nâu trắng, mang biển kiểm soát 73K1-1471 là của chị Hoàng Thị T mua lại của Lê Anh D, bị cáo Nguyễn Văn L sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên trên đường đi phụ xây về bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mà chị Thắm không biết, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch đã xác minh và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 chiếc bao tải màu trắng là vật mà bị cáo sử dụng phạm tội hiện không có giá trị, không sử dụng được, áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điều 36; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn L vì thu nhập không ổn định.
Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã Phù Hóa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
[3]. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: không xem xét.
[4]. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bao tải màu trắng.
Vật chứng nói trên có đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch ngày 20/6/2023.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/8/2023) đối với người có mặt tại phiên tòa và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án đối với người vắng mặt.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Quảng Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
- Công an huyện Quảng Trạch;
- VKSND huyện Quảng Trạch;
(Đã ký)
- THADS huyện Quảng Trạch;
- UBND xã Phù Hóa;
- Bị cáo; người TGTT;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Lan Phƣơng
[[ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Quảng Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
- Công an huyện Quảng Trạch;
- VKSND huyện Quảng Trạch;
- THADS huyện Quảng Trạch;
- UBND xã Quảng Kim;
- Bị cáo; người TGTT;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Lan Phƣơng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Công an huyện Quảng Trạch; - VKSND huyện Quảng Trạch; - THADS huyện Quảng Trạch; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Phƣơng |