vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Lò Minh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lo Minh C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Lò Minh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày 23 tháng 02 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh;

Ông Lò Văn Chiên.

- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát V.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2023/TLST-HS, ngày 12 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Minh C, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1998, tại: huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Đ, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Lò Văn C1, đã chết; mẹ đẻ: Lò Thị T, sinh năm 1973; bị cáo chưa đăng ký kết hôn nhưng sống chung như vợ chồng với chị: Cà Thị N, sinh năm 2003; bị cáo có 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Phong Thổ từ ngày 18/9/2022 đến ngày 27/9/2022, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh PH Văn H, sinh nam 1978 trú tại: Bản Đ, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, có đơn xin xét xử vắng mặt;

Anh PH Văn V, sinh năm 1970, địa chỉ: Bản Đ, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, tỉnh Lai Châu, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

Anh Đèo Văn S, sinh năm 1987, địa chỉ: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 16 giờ, ngày 17/9/2022, do lên cơn nghiện ma túy nên Lò Minh C đem theo số tiền 200.000 đồng đi tìm mua ma túy về sử dụng. Tại khu vực đường rẽ lên Ủy ban nhân dân xã Bản Lang, C đi bộ theo hướng đi lên xã Dào San khoảng 500m thì gặp một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi, đang đi bộ một mình, C không biết rõ họ tên, địa chỉ, nhìn người này giống người nghiện ma túy, C nhờ người đàn ông mua hộ được 01 gói Heroine hết 200.000 đồng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, C lấy gói Heroine đã mua được ra, dùng dao lam có sẵn ở trong nhà và cắt gói Heroine ra chia làm 03 phần, sau đó cắt lớp nilon màu xanh của vỏ gói Heroine cũ ra làm 03 mảnh và gói Heroine lại thành 02 gói đều buộc thắt lại, còn một phần Heroine, C sử dụng bằng hình thức chích. Sau khi sử dụng Heroine xong, C cho 02 gói Heroine vào trong túi quần bên phải đang mặc, còn bơm kim tiêm và mảnh nilon màu xanh, con dao lam thì Châu đem vứt đi. Đến khoảng hơn 13 giờ, ngày 18/9/2022, khi Châu đang giặt quần áo ở nhà thì PH Văn H đến hỏi mua Heroine của C. C đã bán cho H 02 gói Heroine lấy số tiền 100.000 đồng (gồm 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng). Mua được Heroine của C, H để hai gói Heroine vào mũ lưỡi trai rồi đội lên đầu và đi về. Đến 14 giờ 00 phút, ngày 18/9/2022, khi H đang đi trên đường quốc lộ 100 thuộc bản Đớ, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu thì bị Công an huyện Phong Thổ phát hiện bắt quả tang. PH Văn H đã giao nộp 02 gói chất bột màu trắng, được gói ngoài bằng nilon màu xanh và khai nhận số chất bột màu trắng đó là Heroine do H mua của Lò Minh C, mục đích mua về để cùng PH Văn V và Đèo Văn S sử dụng. Trước đó, S có mượn điện thoại của V để gọi điện cho H, bảo H đi mua Heroine về cùng sử dụng. Số tiền H mua Heroine là của Đèo Văn S và PH Văn V góp với nhau cho H đi mua Heronie về để cả ba người cùng sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ tiến hành khám xét người, nơi ở của Lò Minh C, C đã giao nộp 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và khai đó là tiền bán Heroine cho PH Văn H.

Vật chứng thu giữ, tạm giữ: Thu giữ của bị cáo Lò Minh C: Số tiền 100.000 đồng. Thu giữ của PH Văn H: 02 gói chất bột màu trắng đều được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh buộc thắt lại; 01 (Một) chiếc mũ lưỡi trai màu xanh; 01 (Một) chiếc điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu JVJ, màu đen, số IMEI 1: 35565305359, số IMEI 2: 35565305359 1647, điện thoại có kèm theo 01 thẻ sim số: 0374343865, đã cũ, đang còn sử dụng được, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong. Thu giữ của PH Văn V: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMAR.1, loại màn hình cảm ứng, màu xám ghi, IMEI 1: 351088460192115, IMEI 2: 3510884601921235, điện thoại có kèm theo 02 thẻ sim của nhà mạng Viettel, số sim 1: 0974043224, số sim 2: 0365212487.

Tại bản Kết luận giám định số: 43/KL-GĐVV, ngày 18/9/2022, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Khối lượng chất bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ nhất là 0,03 gam. Khối lượng chất bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thứ hai là 0,04 gam. Tổng khối lượng 02 gói chất bột màu trắng có khối lượng là 0,07 gam. Kết luận giám định số: 776/KL-KTHS, ngày 21/09/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: 02 (hai) mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine. Kết luận giám định số: 779/KL-KTHS, ngày 20/09/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu, kêt luận: 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), có mã số ký hiệu CG19791156 gửi đến giám định là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKSPT, ngày 12/01/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Lò Minh C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát V đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Minh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Minh C từ 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm, 09 (Chín) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ số Heroine thu giữ được đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu giám định nên không đề cập xử lý. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng còn lại, gồm: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMAR.1, loại màn hình cảm ứng màu xám ghi, IMEI 1: 351088460192115, IMEI 2: 3510884601921235, điện thoại có kèm theo 02 thẻ sim của nhà mạng Viettel, số sim 1: 0974043224, số sim 2: 0365212487, thu giữ của PH Văn V; 01 (Một) chiếc điện thoại di động loại bàn phím nhãn hiệu JVJ màu đen, số IMEI 1: 35565305359, số IMEI 2: 35565305359 1647 đã cũ, đang còn sử dụng được, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong, thu giữ của PH Văn H, kèm theo 01 thẻ sim số: 0374343865. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc mũ lưỡi trai màu xanh thu giữ của PH Văn H; 02 mảnh nilon màu xanh; các phong bì niêm phong vật chứng. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tranh luận với luận tội của Kiểm sát V và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra V, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát V trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã có lời khai trong quá trình điều tra, được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về chứng cứ, hành vi mà bị cáo Lò Minh C đã thực hiện:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng hơn 13 giờ, ngày 18/9/2022, tại nhà ở của Lò Minh C, địa chỉ: Bản Đ, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, Lò Minh C đã bán cho PH Văn H 02 gói Heroine lấy số tiền 100.000 đồng. Mua được Heroine của C, H đem đi để sử dụng cùng PH Văn V, Đèo Văn S, khi H đang đi trên đường quốc lộ 100 thuộc bản Đớ, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu thì bị Công an huyện Phong Thổ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Qua kết quả trưng cầu giám định xác định được, số chất bột màu trắng thu giữ của PH Văn H là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,07 gam; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng thu của Lò Minh C là tiền thật.

Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo, các tình tiết liên quan trong vụ án.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn; hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Những tình tiết liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc số Heroine, Lò Minh C khai nhờ một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể mua hộ nên không có cơ sở để điều tra xử lý đối với người đàn ông này và người đã bán Heroine.

Việc Đèo Văn S, PH Văn V góp tiền đưa cho PH Văn H đi mua Heroine về để cùng sử dụng, do khối lượng Heroine là 0,07 gam, không đủ định lượng theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, H, S, V không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự nên hành vi của H, S, V chưa đủ cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Công an huyện Phong Thổ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với PH Văn H, Đèo Văn S, PH Văn V về hành vi này theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021, của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội.

Quá trình điều tra xác định: 02 chiếc điện thoại thu giữ của PH Văn V và PH Văn H là do Đèo Văn S đã mượn điện thoại của V để gọi điện cho H, cả ba người cùng thống nhất nội dung là V và S góp tiền chung đưa cho H đi mua Heroine về để cả ba người cùng sử dụng nên 02 chiếc điện thoại này được coi là tài sản dùng vào việc phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng miền núi, điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của bị cáo gây ra cho xã hội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho bị cáo, đồng thời để góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, điều kiện kinh tế gia đình bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Heroine thu giữ trong vụ án đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng, gồm: Số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo, là tiền bị cáo có được từ việc bán trái phép Heroine nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. 01 chiếc điện thoại thu giữ của PH Văn V và 01 chiếc điện thoại thu giữ của PH Văn H, do đây là vật dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước. 01 mũ lưỡi trai; 02 mảnh nilon màu xanh; các vỏ niêm phong vật chứng, đây là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

1. Bị cáo Lò Minh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Minh C: 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời giam tạm giữ từ ngày 18/9/2022 đến ngày 27/9/2022 (09 ngày), còn phải chấp hành 02 (Hai) năm, 05 (Năm) tháng, 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng đã thu giữ của bị cáo.

Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMAR.1, loại màn hình cảm ứng, màu xám ghi, IMEI 1: 351088460192115, IMEI 2: 3510884601921235, điện thoại có kèm theo 02 thẻ sim của nhà mạng Viettel, số sim 1: 0974043224, số sim 2: 0365212487; 01 (Một) chiếc điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu JVJ, màu đen, số IMEI 1: 35565305359, số IMEI 2: 35565305359 1647 đã cũ, đang còn sử dụng được, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong, kèm theo 01 thẻ sim số: 0374343865.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc mũ lưỡi trai; 02 mảnh nilon màu xanh; các vỏ niêm phong vật chứng.

(Các vật chứng hiện đang được lưu tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ