vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 1 Điều 134 đối với bị cáo Võ Thái H; khoản 1 Điều 178 đối với bị cáo Hồ Thanh G; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị Quyết số … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản, cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 1 Điều 134 đối với bị cáo Võ Thái H; khoản 1 Điều 178 đối với bị cáo Hồ Thanh G; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày: 17-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Nguyễn Văn Hòa;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 14 và 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST–HS ngày 03 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Võ Thái H, sinh năm 1991 tại Sóc Trăng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Thạnh A, xã Thạnh Thới T, huyện Trần Đ, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: khu phố X, phường Chánh Phú H, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: tài xế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Võ Tấn Đ và bà Trần Thị L; có vợ Lâm Thị G và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

2. Hồ Thanh G, sinh năm 1992 tại Hậu Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Mỹ H, xã Hòa M, huyện Phụng H, tỉnh Hậu Giang; tạm trú: khu phố 3, phường Chánh Phú H, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: tài xế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Hồ Văn M và bà Lâm Thị H; có vợ Phạm Thị P; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

Bị hại:

+ Ông Võ Thái H, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp An T, xã Thạnh Thới T, huyện Trần Đ, tỉnh Sóc T; có mặt. (đồng thời là bị cáo trong vụ án)

+ Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Đoàn Thanh L; địa chỉ: số X, đường D, khu phố A, phường Tân A, thành phố Thủ Dầu M, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; địa chỉ: khu phố Q, phường Chánh Phú H, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Danh Ngọc C, sinh năm 1993; địa chỉ: tổ S, khu phố Y, phường Chánh Phú H, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Ông Huỳnh T, sinh năm 2002; địa chỉ: khu phố X, phường Chánh Phú H, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Ông Danh Hoàng A, sinh năm 1985; địa chỉ: khu phố X, phường Chánh Phú H, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Ông Trần Vũ P, sinh năm 1992; địa chỉ: khu phố X, phường Chánh Phú H, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1994; địa chỉ: khu phố X, phường Chánh Phú H, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1986; địa chỉ: khu phố An L, phường Hòa L, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1994; địa chỉ: khu phố An L, phường Hòa L, thị xã Bến C, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 25/4/2022 Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô tải biển số 61H-014.06 đến lò gạch M thuộc ấp Bưng T, xã Long N, huyện Bàu B, tỉnh Bình Dương để mua gạch. Tại đây H mâu thuẫn trong việc sắp xếp thứ tự xe vào bốc xếp gạch với Hồ Thanh G. Sau đó, Hồ Thanh G và Nguyễn Văn H xảy ra cự cãi và đánh nhau. Lúc này phụ lơ của G là Huỳnh T cũng đi đến cùng G đánh nhau với H bằng tay thì được mọi người ngăn cản nên cả hai bên dừng lại.

Thấy mình bị đánh và yếu thế Nguyễn Văn H gọi điện thoại cho em ruột là Nguyễn Văn H đến để giải quyết mâu thuẫn với G. Khoảng 06 giờ 45 phút, ngày 25/4/2022, H đến gặp H, sau đó H và H đánh nhau với G và T bằng tay. Lúc này bạn làm cùng H là Võ Thái H đang đỗ xe ô tô tải biển số 61C-354.29 ở gần chỗ đánh nhau. H quan sát thấy H và H bị đánh, H muốn giúp H và H đánh nhau với G và T nên H xuống xe cầm trên tay 01 (một) ống kim loại bằng sắt dài 30 cm đường kính 2,7 cm đánh về phía của Hồ Thanh G 01 (một) cái trúng vào bàn tay phải của G gây thương tích. Sau khi đánh G, H lên xe ô tô biển số 61C-354.29 đóng cửa lại. Hồ Thanh G nhặt lần lượt 04 (bốn) viên gạch ống loại 04 (bốn) lỗ ném trúng phấn kính chắn gió và phần cửa xe ô tô tải biển số 61C-354.29 hậu quả là kính chắn gió bị bể và cửa xe bị trầy xướt.

Hồ Thanh G gọi điện thoại cho Danh Hoàng A, nói với A là G bị đánh nhờ A tới hỗ trợ. Khoảng 20 phút sau, Danh Hoàng A cùng Danh Ngọc C, Nguyễn Văn C, Trần Vũ P. Tại đây, 02 bên tiếp tục cự cải và đánh nhau qua lại nhưng không ai bị thương tích (trừ Nguyễn Văn C ngồi bên ngoài không tham gia đánh nhau). Thấy nhóm của G đông nên Võ Thái H đã điều khiển xe ô tô biển số 61C-354.29 chở Hiển ra khỏi nơi xảy ra vụ án. Thấy vậy, Hồ Thanh G đã cầm trên tay 01 (một) con dao tự chế chém trúng cửa xe ô tô biển số 61C-354.29. Sau đó Hồ Thanh G và Võ Thái H đến Công an xã Long Nguyên để trình báo.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 70 cm, 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 60 cm, 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 30 cm, 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 50 cm.

Ngày 25/4/2022, Hồ Thanh G có đơn yêu cầu khởi tố vụ án và yêu cầu giám định thương tích đối với hành vi của Võ Thái H gây thương tích cho mình. Ngày 28/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bàu Bàng ra Quyết định trưng cầu giám định số: 98/QĐ, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương giám định tỷ lệ thương tật và cơ chế hình thành vết thương của Hồ Thanh G. Ngày 05/7/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương ra kết luận giám định số: 470/2021/GĐPY kết luận: Chấn thương gãy kín xương thuyền cổ tay phải đã cal. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Hồ Thanh G là 09 % (chín phần trăm).

Ngày 28/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bàu Bàng ra yêu cầu định giá tài sản số: 175/YC, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bàu Bàng, tiến hành định giá đối với những hư hỏng của chiếc xe ô tô tải biển số 61C-354.29 là: 01 kính chắn gió trước ô tô tải, móp cabin cửa phải, móp trên đèn pha trái do Hồ Thanh G gây ra. Ngày 29/6/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Bàu Bàng ra Kết luận định giá tài sản số: 33/KL-HĐDGTS kết luận tổng thiệt hại đối với hư hỏng của chiếc xe ô tô tải biển số 61C-354.29 là 8.788.000 đồng (tám triệu bảy trăm tám mươi ngàn đồng).

Đối với xe ô tô tải biển số 61C-354.29 do Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Đoàn Thanh L đứng tên chủ sở hữu. Người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Hạ V yêu cầu Hồ Thanh G bồi thường thiệt hại số tiền 29.000.000 đồng. Giang đồng ý và đã bồi thường số tiền trên.

Đối với thương tích của Hồ Thanh G, Giang yêu cầu Võ Thái H bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Học đồng ý và đã bồi thường số tiền trên.

Đối với hành vi của Hồ Thanh G gây thương tích cho Nguyễn Văn H, G đã bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. H đã làm đơn từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu gì khác.

Đối với 04 viên gạch mà Hồ Thanh G dùng để làm hư hỏng xe ô tô tải biển số 61C-354.29 không thu giữ được.

Đối với hành vi đánh nhau của Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H, Danh Ngọc C, Huỳnh T, Trần Vũ P, Danh Hoàng A thì Công an huyện Bàu Bàng đã xử phạt vi phạm hành chính số tiền 5.000.000 đồng mỗi người.

Đối với hành vi gây thương tích của Võ Thái H cho Hồ Thanh G, Võ Thái H không thỏa thuận trước với Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H nên Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn H không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Đối với hành vi của Hồ Thanh G gây hư hỏng cho xe ô tô tải biển số 61C-354.29, G không thỏa thuận với Huỳnh T về hành vi này nên Huỳnh T không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Cáo trạng số 23/CT–VKSBB ngày 23/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Võ Thái H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Hồ Thanh G về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Thái H mức hình phạt từ 08 (tám) tháng tù đến 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 (mười sáu) tháng đến 20 (hai mươi) tháng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hồ Thanh G mức hình phạt từ 07 (bảy) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám) tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 70 cm, 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 60 cm, 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 30 cm, 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 50 cm là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.

Tại phiên tòa, các bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo H nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo G nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25/4/2022, tại Lò gạch M thuộc xã Long N, huyện Bàu B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Võ Thái H dùng 01 (một) ống kim loại bằng sắt dài 30 cm đường kính 2,7 cm đánh trúng vào tay phải của Hồ Thanh G gây thương tích, tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 09% (chín phần trăm), Hồ Thanh G có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Sau khi bị đánh, bị cáo Hồ Thanh G dùng 04 viên gạch và 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 50 cm gây hư hỏng 01 kính chắn gió trước ô tô tải, móp cabin cửa phải, móp trên đèn pha trái của chiếc xe ô tô tải biển số 61C-354.29 là tài sản của Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Đoàn Thanh L trị giá 8.788.000 đồng (tám triệu bảy trăm tám mươi tám nghìn đồng). Do đó, hành vi mà bị cáo Võ Thái H thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và hành vi mà bị cáo Hồ Thanh G thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo H đã xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo G đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Xét các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Xét thấy không cần bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù bởi các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 70 cm, 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 60 cm, 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 30 cm, 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 50 cm là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm a Khoản 1 Điều 134 đối với bị cáo Võ Thái H; khoản 1 Điều 178 đối với bị cáo Hồ Thanh G; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;

Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Thái H phạm tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo Hồ Thanh G phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Võ Thái H 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (17-4-2023).

Giao bị cáo Võ Thái H về Ủy ban nhân dân phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

2.2. Xử phạt bị cáo Hồ Thanh G 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (17-4-2023).

Giao bị cáo Hồ Thanh G về Ủy ban nhân dân phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

4. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 70 cm, 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 60 cm, 01 (một) đoạn ống kim loại dài khoảng 30 cm, 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 50 cm.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24-02-2023 giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng).

5. Về án phí: Buộc các bị cáo Võ Thái H, Hồ Thanh G mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại Võ Thái H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Đoàn Thanh L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ