- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Bích H. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Thị Bích H, Nguyễn Trí Th, Huỳnh Thị Thanh T; sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HS-PT Ngày: 08-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Hoài.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Đặng Ngọc Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông H Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số số 204/2022/TLPT-HS ngày 10/11/2022 đối với bị cáo Lê Thị Bích H cùng đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 145a/2022/HS-ST ngày 12/8/2022 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: Lê Thị Bích H, sinh ngày: 22/12/2001, tại: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: Số 73/3 đường BTH, Phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: Số 438 đường HBT, Phường 6, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Lê Đắc L, sinh năm: 1969; con bà: Nguyễn Thị Thu B, sinh năm: 1975; tiền án; tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 23/9/2021, đến ngày 10/12/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang biện pháp bảo lĩnh. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Trí Th, sinh ngày: 29/8/2000, tại: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Số 11B đường PT, Phường 5, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1974; con bà: Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm: 1977.
Tiền án; tiền sự: Không
Bị bắt tạm giam ngày 17/11/2021, đến ngày 19/01/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang biện pháp bảo lĩnh. Có mặt.
3. Họ và tên: Huỳnh Thị Thanh T, sinh ngày: 04/10/2002, tại: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Số 21 CT (21/1 TVD), Phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Huỳnh Văn L, sinh năm: 1969; con bà: Tạ Thị H, sinh năm: 1971; chồng: Lê Trung H, sinh năm: 1998; có 01 con sinh năm 2022.
Tiền án; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Trong vụ án này, còn có các bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian dịch bệnh Covid, Lê Thị Bích H đã cùng Nguyễn Trí Th, Huỳnh Thị Thanh T, Đặng Thị Trà Gi và Nguyễn Nhật H sử dụng hình ảnh cá nhân của nhiều người làm ảnh đại diện, lập nhiều tài khoản Facebook, Zalo “ảo” đăng bài vào các hội, nhóm trên Facebook để giả bán hoa củ quả nông sản Đà Lạt. Khi người dân có nhu cầu mua hàng, H sử dụng các số điện thoại không đăng ký chính chủ (sim rác) nhờ Th, T, G, Nhật H giả làm tài xế để hẹn thời gian, địa điểm giao hàng. Sử dụng các số tài khoản của các Ngân hàng khác nhau để khách hàng tin tưởng chuyển tiền cọc hoặc tiền toàn bộ đơn hàng cho H. Sau khi nhận được tiền, H sẽ cắt đứt liên lạc với khách hàng và cùng đồng bọn chiếm đoạt số tiền này.
* Nguyễn Trí Th (bạn trai của H) biết H thực hiện việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác với phương thức thủ đoạn như trên, Th đồng ý giúp đỡ H với vai trò cùng H đi mua các sim điện thoại “rác” để H sử dụng liên lạc với khách hàng, tạo tài khoản Zalo và đóng giả làm tài xế giao hàng, khi có người gọi điện đến hỏi, Th sẽ báo thời gian bốc hàng và thời gian giao hàng cụ thể để tạo niềm tin cho khách hàng chuyển tiền vào tài khoản cho H. Sau đó, từ khoảng tháng 01/2021 đến tháng 03/2021, Th và H đã cùng nhau thực hiện 03 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
Lần 1: Vào tháng 01/2021, H đăng trên mạng xã hội Facebook giả bán Bông xả thì có chị Phạm Thị Thu H liên hệ. H sử dụng tài khoản zalo có tên H Yến liên kết với số điện thoại 0784.030.594 (sau này đổi thành Bà Thủy) giao dịch mua bán với chị Hồng, chị Hồng đồng ý mua Bông xả của H với giá 7.200.000 đồng, H yêu cầu chị Hồng đặt cọc và chuyển tiền vào tài khoản số 19036306543011 của ngân hàng Techcombank mang tên Nguyễn Thị Tuyết Tr (bạn của H). Đến chiều ngày 07/01/2021, chị Hồng đã chuyển 2.700.000 đồng vào tài khoản số 19036306543011 cho H. Sau khi nhận được tiền, H cắt đứt liên lạc với chị Hồng, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này.
Người bị hại: Phạm Thị Thu H, sinh năm: 1980, trú tại số 73B Cao Bá Quát, Phường 7, Đà Lạt, Lâm Đồng. Chị Hồng đã nhận đủ số tiền 2.700.000 đồng do H bồi thường, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Tuyết Tr, sinh năm 1996, trú tại số 29 Ngô Gia Tự, Th Phiên, Phường 12, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng là chủ tài khoản ngân hàng Techcombank số 19036306543011, quá trình điều tra xác định khi cho H mượn tài khoản để sử dụng chị Trinh không biết H sử dụng tài khoản ngân hàng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nên không có cơ sở để xử lý.
Lần 2: Vào tháng 02/2021, H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Đỗ Diễm” đăng bài giả bán hoa thì có anh Lê Văn X liên hệ. Sau khi thoả thuận anh Xang đồng ý mua hoa của H với giá 3.520.000 đồng, H yêu cầu anh Xang chuyển tiền mua hàng vào tài khoản ngân hàng Vietcombank số 0561000625859 mang tên Lê Thị Bích H. Ngày 23/02/2021, anh Xang đã chuyển toàn bộ số tiền trên vào tài khoản số 0561000625859 cho H. Sau khi nhận được tiền, H cắt đứt liên lạc với anh Xang, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này.
Người bị hại: Lê Văn X, sinh năm 1992, trú tại: Tổ 1, khối An Mỹ, Phường Cẩm Châu, thành phố Hội An, Quảng Nam. Anh Xang đã nhận đủ số tiền 3.520.000 đồng do H bồi thường, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Lần 3: Vào tháng 3/2021, H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Lê Hoàn Hữu” đăng bài giả bán hoa thì có chị Nguyễn Thị Mộng Thliên hệ. H sử dụng tài khoản zalo có tên Bà Thuỷ để giao dịch mua bán. Chị Thuỳ đồng ý mua 07 thùng hoa cúc lưới của H với giá 9.600.000 đồng, H yêu cầu chị Thuỳ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Vietcombank số 0561000625859 mang tên Lê Thị Bích H. Đến ngày 22/3/2021, chị Thuỳ đã chuyển toàn bộ số tiền trên vào tài khoản số 0561000625859 cho H. Sau khi nhận được tiền H cắt đứt liên lạc với chị Thuỳ, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này.
Người bị hại: Nguyễn Thị Mộng Th, sinh năm 1980, trú tại: Liên Trì 1, Bình Kiến, thành phố Tuy Hoà, Phú Yên. Chị Thùy đã nhận đủ số tiền 9.600.000 đồng do H bồi thường, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Số tiền lừa đảo chiếm đoạt được của chị Hồng, anh Xang, chị Thùy, H đã tiêu xài cá nhân, đưa Th đi ăn uống và mua sắm đồ đạc. Sau khi thực hiện 03 vụ lừa đảo trên, Th và H chia tay, Th không đồng ý tham gia cùng với H nữa.
* Đến tháng 4/2021, H nói cho Huỳnh Thị Thanh T biết về việc H đang lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác qua mạng xã hội với phương thức thủ đoạn như trên thì Thuỷ đồng ý tham gia cùng H. H và Thuỷ đi đến ngân hàng ACB lập tài khoản số 18779987 đứng tên Thuỷ (H quản lý và sử dụng tài khoản này) và đến ngân hàng ViettinBank để lập tài khoản số 100873076221 đứng tên Thuỷ liên kết với số điện thoại của Thuỷ: 0866.125.251 (Thuỷ quản lý và sử dụng tài khoản này), Thủy cũng đóng giả làm tài xế giao hàng, khi có người gọi điện đến hỏi, Thủy sẽ báo thời gian bốc hàng và thời gian giao hàng cụ thể để tạo niềm tin cho khách hàng chuyển tiền vào tài khoản cho H. Sau đó, cả hai đã thực hiện 03 lần lừa đảo như sau:
Lần 1: Ngày 21/4/2021, H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Lưu Khánh Thy” đăng bài giả bán hoa thì có chị Thổ Thị M liên hệ. H sử dụng số điện thoại 0797.154.998 để giao dịch mua bán, chị Mai đồng ý mua Hoa của H với giá 6.500.000 đồng, H yêu cầu chị Mai chuyển khoản tiền cọc vào tài khoản ngân hàng ACB số 18779987 mang tên Huỳnh Thị Thanh T. Ngày 22/4/2021, chị Mai đã chuyển số tiền 4.500.000 đồng vào tài khoản số 18779987 cho H. Sau khi nhận được tiền, H đã cắt đứt liên lạc với chị Mai, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này
Người bị hại: Thổ Thị M, sinh năm 1988, trú tại: Ấp Trung Sơn, xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Chị Mai đã nhận đủ số tiền 4.500.000 đồng do H bồi thường, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Lần 2: Vào tháng 5/2021, H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Lê Hoàn Hữu” đăng bài giả bán cà chua thì có anh Đào Việt H liên hệ. Anh Hưng đồng ý mua cà chua của H với giá 8.000.000 đồng. H yêu cầu anh Hưng chuyển tiền cọc vào tài khoản ngân hàng ACB số 18779987 mang tên Huỳnh Thị Thanh T. Đến ngày 05/5/2021, anh Hưng đã chuyển số tiền 8.000.000 đồng vào tài khoản số 18779987 cho H. Sau khi nhận được tiền H đã cắt đứt liên lạc với anh Hưng, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này.
Người bị hại: Đào Việt H, sinh năm 1986, trú tại: số 208/17B, KP9, Phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hoà, Đồng Nai. Anh Hưng đã nhận số tiền 10.000.000 đồng do H bồi thường, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Lần 3: Khoảng tháng 5/2021, H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Thanh Thuỷ” đăng bài giả bán cà chua rẻ, 12.000đ/ký thì có anh Nguyễn Đặng Minh T liên hệ. Anh Tâm đồng ý mua khoảng 50 – 60 kg cà chua của H. H yêu cầu anh Tâm chuyển tiền cọc vào tài khoản ngân hàng ACB số 18779987 mang tên Huỳnh Thị Thanh T. Ngày 10/5/2021, anh Tâm đã gửi số tiền 1.080.000 đồng vào tài khoản số 18779987 cho H. Sau khi nhận được tiền, H đã cắt đứt liên lạc với anh Tâm, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này.
Người bị hại: Nguyễn Đặng Minh T, sinh năm 1993, trú tại: Tổ 34, Liên Nghĩa, Đức Trọng, Lâm Đồng. Anh Tâm đã nhận số tiền 1.080.000 đồng do H bồi thường, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Số tiền lừa đảo chiếm đoạt được của chị Mai, anh Hưng, anh Tâm, H đã tiêu xài cá nhân, cho Thủy 1.000.000 đồng tiền mặt và đưa Thủy đi ăn uống, mua sắm đồ đạc. Sau khi cùng H lừa đảo 03 vụ, Thủy không đồng ý tham gia cùng với H nữa.
- Đến ngày 15/7/2021, Thuỷ một mình sử dụng tài khoản Facebook có tên “Huỳnh Lộc” đăng bài giả bán rau củ, thì có anh Lê Trung Th liên hệ. Thuỷ sử dụng số điện 0886.125.251 để liên lạc với anh Thủ. Anh Thủ đồng ý mua rau của Thuỷ với giá 5.200.000 đồng. Thuỷ yêu cầu anh Thủ phải chuyển tiền cọc vào tài khoản ngân hàng VietinBank số 100873076221 mang tên Huỳnh Thị Thanh T. Đến ngày 16/7/2021, anh Thủ đã chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản 100873076221 cho Thuỷ. Sau khi nhận được tiền, Thuỷ không gửi hàng và cắt đứt liên lạc với anh Thủ.
Người bị hại: Lê Trung Th, sinh năm 1985, trú tại: 398 Nhật Tảo, Phường 6, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Anh Thủ đã nhận số tiền 3.000.000 đồng do Thủy bồi thường, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho Thủy.
* Vào tháng 7/2021, H nói cho Đặng Thị Trà Gi biết về việc H đang lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác với phương thức thủ đoạn như trên thì Giang đồng ý đi đến ngân hàng BIDV chi nhánh Đà Lạt lập tài khoản số 64610000431713 đứng tên Đặng Thị Trà Gi cho H quản lý và sử dụng, Giang cũng đóng giả làm tài xế giao hàng, khi có người gọi điện đến hỏi, Giang sẽ báo thời gian bốc hàng và thời gian giao hàng cụ thể để tạo niềm tin cho khách hàng chuyển tiền vào tài khoản cho H. Sau đó, H và Giang đã thực hiện 04 lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng tháng 7/2021, Lê Thị Bích H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Lê Thị Ngọc Mai” đăng bài giả bán rau thì có chị Trần Thị Trúc M liên hệ. Chị Mai đồng ý mua rau của H với giá 15.450.000 đồng, H yêu cầu chị Mai chuyển tiền cọc vào tài khoản ngân hàng BIDV số 64610000431713 đứng tên Đặng Thị Trà Gi thì mới giao hàng, số tiền còn lại thanh toán khi nhận được hàng. Đến ngày 15/7/2021, chị Mai đã chuyển số tiền 7.450.000 đồng vào tài khoản 64610000431713 cho H. Sau khi nhận được tiền, H đã cắt đứt liên lạc với chị Mai, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này
Người bị hại: Trần Thị Trúc M, sinh năm 1990, trú tại: 74/16 Châu Văn Giác, Phường 4, TP Tân An, Long An. Chị Mai đã nhận số tiền 7.450.000 đồng do H bồi thường, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Lần 2: Tháng 7/2021, H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Lê Thị Ngọc Mai” đăng bài giả bán rau thì có anh Dương Công H liên hệ. H sử dụng Zalo tên “Bích H” giao dịch mua bán với anh Hậu, anh Hậu đồng ý mua rau của H với giá 7.000.000 đồng, H yêu cầu anh Hậu chuyển tiền cọc vào tài khoản ngân hàng BIDV số 64610000431713 đứng tên Đặng Thị Trà Gi. Ngày 17/7/2021, anh Hậu đã chuyển số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản 64610000431713 cho H. Sau khi nhận được tiền, H đã cắt đứt liên lạc với anh Hậu, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này.
Người bị hại: Dương Công H, sinh năm 1984, trú tại: 377/53A Phan Văn Trị, Phường 11, Quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Anh Hậu đã nhận đủ số tiền 5.000.000 đồng do H bồi thường, không có yêu cầu gì thêm
Lần 3: Tháng 7/2021, H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Lê Thị Ngọc Mai” đăng bài giả bán rau thì có chị Nguyễn Đình Mai Th liên hệ. Chị Thy đồng ý mua rau của H với giá 4.000.000 đồng, H yêu cầu chị Thy chuyển tiền cọc vào tài khoản ngân hàng BIDV số 64610000431713 đứng tên Đặng Thị Trà Gi. Đến ngày 17/7/2021, chị Thy đã chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản 64610000431713 cho H. Sau khi nhận được tiền, H đã cắt đứt liên lạc với chị Thy, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này
Người bị hại: Nguyễn Đình Mai Th, sinh năm 2000, trú tại: 482/54C Nơ Trang Long, Phường 13, Quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Chị Thy đã nhận số tiền 2.000.000 đồng do H bồi thường, không có yêu cầu gì thêm.
Lần 4: Tháng 7/2021, H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Lê Thị Ngọc Mai” đăng bài giả bán rau thì có anh Đặng Văn Th liên hệ. Anh Thắng đồng ý mua rau của H với giá 26.000.000 đồng, H yêu cầu anh Thắng chuyển tiền cọc vào tài khoản ngân hàng BIDV số 64610000431713 đứng tên Đặng Thị Trà Gi. Ngày 20/7/2021, anh Thắng đã chuyển số tiền 13.000.000 đồng vào tài khoản 64610000431713 cho H. Sau khi nhận được tiền, H đã cắt đứt liên lạc với anh Thắng, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này.
Người bị hại: Đặng Văn Th, sinh năm 1987, trú tại: số 06 Xuân An, Phường 3, Đà Lạt, Lâm Đồng. Anh Thắng đã nhận đủ số tiền 13.000.000 đồng do H bồi thường, không có yêu cầu gì thêm.
Số tiền chiếm đoạt được của Chị Mai, anh Hậu, chị Thy, anh Thắng H đã tiêu xài hết, cho Giang 5.000.000 đồng và đưa Giang đi ăn uống, mua sắm hết khoảng 5.000.000 đồng. Sau đó, Giang không đồng ý cùng H tham gia lừa đảo nữa, Giang yêu cầu H khóa số tài khoản của mình và không liên lạc gì với H nữa.
* Đến ngày 20/7/2021, Nguyễn Trí Th và Lê Thị Bích H quay lại với nhau và Th tiếp tục đồng ý tham gia lừa đảo chiếm đoạt tài sản với vai trò Th giúp H đi mua số điện thoại “rác” và đóng giả vai làm lái xe cho H. Đến khoảng ngày 22/7/2021, H bàn với Th mượn tài khoản ngân hàng của Nguyễn Nhật H (người yêu của em gái H) sử dụng để lừa đảo thì Th đồng ý. Thực hiện ý định này, Th đã nói với Nguyễn Nhật H cho Lê Thị Bích H mượn tài khoản ngân hàng vì tài khoản ngân hàng của Bích H đang bị hư thì Nhật H đồng ý cho mượn tài khoản ngân hàng Vietcombank số 1017320037 mang tên Nguyễn Nhật H. Cả hai đã thực hiện 04 lần lừa đảo như sau:
Lần 1: Tháng 7/2021, Lê Thị Bích H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Nguyễn H” liên hệ bán rau cho chị Nguyễn Thị Thanh H. Chị Hoa đồng ý mua rau của H với giá 11.990.000 đồng, H yêu cầu chị Hoa chuyển tiền cọc vào tài khoản ngân hàng VietcomBank số 1017320037 mang tên Nguyễn Nhật H thì mới gửi hàng. Ngày 27/7/2021, chị Hoa đã chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng 1017320037 cho H. Sau khi nhận được tiền, H đã cắt đứt liên lạc với chị Hoa, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này.
Người bị hại: Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1993, trú tại: tổ 4, khu phố Phước Bửu, thị trấn Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, Bà Rịa Vũng Tàu, Chị Hoa đã nhận đủ số tiền 3.000.000 đồng do H bồi thường, không yêu cầu gì thêm.
Lần 2: Tháng 7/2021, H đăng bài trên mạng Facebook giả bán hoa thì có chị Trần Thị D liên hệ. H sử dụng tài khoản zalo có tên “Nhật H’ giao dịch mua bán, chị Dung đồng ý mua hoa của H với giá 9.000.000 đồng, H yêu cầu chị Dung chuyển tiền cọc vào tài khoản ngân hàng BIDV số 64610000431713 đứng tên Đặng Thị Trà Gi thì mới giao hàng. Ngày 01/8/2021, chị Dung chuyển số tiền 4.000.000 đồng vào tài khoản 64610000431713 cho H. Sau khi nhận được tiền, H đã cắt đứt liên lạc với chị Dung, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này
Người bị hại: Chị Trần Thị D, sinh năm: 1989, trú tại Tổ 13, KP3, Phường Trảng Dài, TP Biên Hoà, Đồng Nai. Chị Dung đã nhận đủ số tiền 4.000.000 đồng do H bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Lần 3: Đến ngày 30/7/2021, Nhật H biết được việc Th và Bích H mượn tài khoản ngân hàng để thực hiện việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng Bích H và Th nói “không sao đâu, có gì tao chịu cho” nên Nhật H đồng ý cho Bích H và Th tiếp tục mượn tài khoản để sử dụng. Tháng 8/2021, H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Nguyễn Ngọc Hằng” đăng bài giả bán hoa thì có anh Võ Thành P liên hệ. Anh Phi đồng ý mua hoa của H với giá 20.320.000 đồng, H yêu cầu anh Phi phải chuyển tiền cọc qua tài khoản ngân hàng Vietcombank số 1017320037 mang tên Nguyễn Nhật H và tài khoản ngân hàng BIDV số 64610000431713 mang tên Đặng Thị Trà Gi mới giao hàng. Ngày 06/8/2021, anh Phi đã chuyển số tiền 7.000.000 đồng vào tài khoản số 1017320037 và chuyển số tiền 4.000.000 đồng vào tài khoản 64610000431713 cho H. Sau khi nhận được tiền H đã cắt đứt liên lạc với anh Phi, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này.
Người bị hại: Võ Thành P, sinh năm 1992, trú tại 27A Đặng Thị Rành, Phường Linh Tây, TP Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh. Anh Phi đã nhận đủ số tiền 11.000.000 đồng do Lê Thị Bích H và Nguyễn Nhật H bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Ngày 12/8/2021, Nguyễn Nhật H không đồng ý tham gia cùng Lê Thị Bích H nên Nhật H đến ngân hàng Vietcombank đóng tài khoản ngân hàng số 1017320037.
Lần 4: Tháng 9/2021, Lê Thị Bích H sử dụng tài khoản Facebook có tên “Bùi Thu Huyền” đăng bài giả bán hoa thì có chị Lê Trần Mỹ L liên hệ. Ngày 05/9/2021, H sử dụng tài khoản zalo tên “Tài” để liên hệ với chị Lệ giao dịch mua bán. Chị Lệ đồng ý mua hoa của H với giá 5.360.000 đồng, H yêu cầu chị Lệ phải gửi tiền cọc vào tài khoản ngân hàng Vietcombank số: 0561000625869 mang tên Lê Thị Bích H. Ngày 05/9/2021, chị Lệ đã chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản 0561000625869 cho H. Sau khi nhận được tiền, H đã cắt đứt liên lạc với chị Lệ, không gửi hàng và chiếm đoạt số tiền này.
Người bị hại: Lê Trần Mỹ L, sinh năm 1971, trú tại: 62 Độc Lập, Tổ 2, KP2, TT. Phước Vĩnh, Phú Giáo, Bình Dương. chị Lệ đã nhận đủ số tiền 3.000.000 đồng do H bồi thường, không có yêu cầu gì thêm.
Số tiền lừa đảo chiếm đoạt được của chị Hoa, chị Dung, anh Phi, chị Lệ H đã tiêu xài cá nhân hết, cho Th 9.000.000 đồng, cho Nhật H khoảng 1.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của chị Phạm Thị Thu H.
- 01 Giấy nộp tiền của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam ngày 07/1/2021 (bản phô tô), 19 bản ảnh ghi lại nội dung nhắn tin mua bán hoa
Thu giữ của Lê Thị Bích H:
01 thẻ ngân hàng VP Bank mang tên Lê Thị Bích H; 01 thẻ ngân hàng Vietcombank mang tên Lê Thị Bích H; 01 chứng nhân dân dân số 251304427 mang tên Lê Thị Bích H; 01 căn cước công dân số 068301006102 mang tên Lê Thị Bích H; 01 sim Viettel, 01 sim Vinaphone; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng gold, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A53, màu đen, đã qua sử dụng.
Thu giữ của Nguyễn Thị Tuyết Tr: 01 giấy chứng minh nhân dân số 250989859 do Công an tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 18/7/201; 01 thẻ ATM của ngân hàng Techcombank số 9704079985853468 mang tên Nguyễn Thị Tuyết Tr; 01 thẻ ATM của ngân hàng Saccombank số 9704030045571715 mang tên Nguyễn Thị Tuyết Tr; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu vàng, số IMEI: 35732609485929293, đã qua sử dụng, mà hình hiển thị không ổn định. Ngày 18/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Lạt đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 02/QĐ-ĐTTH trả lại cho chị Trinh, chị Trinh đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì.
Thu giữ của Nguyễn Trí Th: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 ProMax màu vàng.
Thu giữ của Huỳnh Thị Thanh T: 01 điện thoại di động hiệu OPPO CPH 1819, màu xanh dương, bị nứt màn hình.
Thu giữ của Đặng Thị Trà Gi: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS max, màu vàng đen.
Thu giữ của Nguyễn Nhật H: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu đỏ cam.
Tại bản Cáo trạng số 80/CT-VKSĐL-LĐ ngày 05/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Lê Thị Bích H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Trí Th, Huỳnh Thị Thanh T, Đặng Thị Trà Gi, Nguyễn Nhật H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 145a/2022/HS-ST ngày 12/8/2022 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt đã xử;
Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Bích H, Nguyễn Trí Th, Huỳnh Thị Thanh T, Đặng Thị Trà Gi, Nguyễn Nhật H cùng phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị Bích H 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 23/9/2021 đến ngày 10/12/2021 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí Th 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 17/11/2021 đến ngày 19/01/2022 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Thị Trà Gi 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thanh T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật H 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án của bị cáo Nguyễn Nhật H. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/8/2022, bị cáo Lê Thị Bích H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 24/8/2022, các bị cáo Huỳnh Thị Thanh T, Nguyễn Trí Th kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử; đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho người bị hại nên chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trí Th, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Bích H, Huỳnh Thị Thanh T, giảm hình phạt cho các bị cáo H, Th từ 09 đến 12 tháng tù; giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo Thủy hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo thống nhất với nhau, thống nhất lời khai của các bị hại và phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng phương thức giao dịch mua bán rau, hoa thông qua mạng xã hội và thanh toán qua tài khoản ngân hàng, trong khoảng thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 9/2021, Lê Thị Bích H đã cùng các đồng phạm là Nguyễn Trí Th, Huỳnh Thị Thanh T, Đặng Thị Trà Gi và Nguyễn Nhật H sử dụng hình ảnh cá nhân của nhiều người làm ảnh đại diện, lập nhiều tài khoản Facebook, Zalo “ảo” đăng bài vào các hội, nhóm trên Facebook để giả bán hoa củ quả nông sản Đà Lạt. Khi người dân có nhu cầu mua hàng, Bích H sử dụng các số điện thoại không đăng ký chính chủ (sim rác) nhờ Th, Thủy, Giang, Nhật H giả làm tài xế để hẹn thời gian, địa điểm giao hàng. Sử dụng các số tài khoản của các Ngân hàng khác nhau để khách hàng tin tưởng chuyển tiền cọc hoặc tiền toàn bộ đơn hàng cho Bích H. Sau khi nhận được tiền, Bích H sẽ cắt đứt liên lạc với khách hàng và chiếm đoạt số tiền này.
Đối với lần Lê Thị Bích H cùng Huỳnh Thị Thanh T lừa đảo anh Đặng Minh Tâm số tiền 1.080.000 đồng vào thời gian ngày 10/5/2021, số tiền các bị cáo lừa đảo của anh Tâm chưa đủ cấu thành tội phạm, anh Tâm cũng đã nhận lại đủ số tiền bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì thêm, do đó không buộc các bị cáo Bích H, Thủy phải chịu trách nhiệm hình sự trong lần thực hiện hành vi lừa đảo này.
Tính chất hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo thể hiện như sau:
- Lê Thị Bích H là người khởi xướng và rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, cùng đồng phạm thực hiện 13 lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác với tổng số tiền 76.770.000 đồng;
- Nguyễn Trí Th cùng Lê Thị Bích H 07 lần lừa đảo chiếm đoạt với tổng số tiền 36.820.000 đồng.
- Đặng Thị Trà Gi cùng với Lê Thị Bích H thực hiện hành vi lừa đảo 04 lần chiếm đoạt với tổng số tiền 27.450.000 đồng.
- Huỳnh Thị Thanh T giúp sức cho bị cáo Lê Thị Bích H thực hiện hành vi lừa đảo 02 lần chiếm đoạt số tiền 12.500.000 đồng và một mình 01 lừa đảo chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng, tổng số tiền Thủy tham gia chiếm đoạt là 15.500.000 đồng.
- Nguyễn Nhật H cùng Lê Thị Bích H và Nguyễn Trí Th 01 lần lừa đảo chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng.
Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, các bị cáo biết rất rõ việc dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Lê Thị Bích H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự; tuyên xử các bị cáo Nguyễn Trí Th, Huỳnh Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo thì thấy rằng; Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Lê Thị Bích H và bị cáo Nguyễn Trí Th xuất trình giấy xác nhận đã bồi thường toàn bộ cho bị hại, nên áp dụng cho bị cáo H tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Th được áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xét thấy, các bị cáo có tuổi đời còn trẻ, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trí Th, chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, giảm hình phạt cho 02 bị cáo này là phù hợp. Đối với bị cáo Huỳnh Thị Thanh T phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo H, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, mặc dù bị cáo 02 lần phạm tội nhưng đều là tội ít nghiêm trọng và nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, hiện nay đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, d khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Thị Bích H, Nguyễn Trí Th, Huỳnh Thị Thanh T; sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Bích H, Nguyễn Trí Th, Huỳnh Thị Thanh T cùng phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị Bích H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 23/9/2021 đến ngày 10/12/2021 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí Th 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 17/11/2021 đến ngày 19/01/2022 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thanh T 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (08/3/2023)
Giao bị cáo Huỳnh Thị Thanh T cho Ủy ban nhân dân Phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án có sự thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Lê Thị Bích H, Nguyễn Trí Th, Huỳnh Thị Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND thành phố Đà Lạt (02); - VKSND thành phố Đà Lạt (01); - Cơ quan CSĐT CA thành phố Đà Lạt (01); - Cơ quan THAHS thành phố Đà Lạt (01); - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (02); Nhà tạm giữ Đà Lạt (02); - Hồ sơ THAHS (03); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Duy Hoài |