- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Dương Hoàng A về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn chị Hoàng Thị U.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27-3-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Bương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/03/2023, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Anh Dương Hoàng A, sinh năm 1983; thường trú: Số 174 đường T, khu phố H, phường B, thành phố D, tình Bình Dương; Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2/ Bị đơn: Chị Hoàng Thị U, sinh năm 1986; thường trú: Số 174 đường T, khu phố H, phường B, thành phố D, tình Bình Dương; Vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/12/2022 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Dương Hoàng A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Hoàng A và chị Hoàng Thị U tự nguyện chung sống với nhau, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 12/7/2010. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại D, Bình Dương.
Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến giữa năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cụ thể: Hai vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không có sự đồng cảm, mỗi người có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, tình cảm vợ chồng không còn. Cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm để xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc nhưng không có kết quả, hiện vợ chồng anh, chị đã ly thân gần 02 năm nay. Nay, anh A nhận thấy hôn nhân của hai vợ chồng không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với chị U. Hiện, anh A làm công nhân thu nhập khoảng 7.000.000đồng/tháng.
Về con chung: Quá trình chung sống, anh A và chị U có 02 con chung tên Dương Hoàng Diệu A1, sinh ngày 16/3/2010 và Dương Hoàng Minh P1, sinh ngày 19/12/2011. Cháu A1 và cháu P1 đang sinh sống cùng với anh A.Sau khi ly hôn anh A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu chị U cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn chị Hoàng Thị U: Quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bị đơn cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tại bản tự khai, cháu Dương Hoàng Diệu A1 trình bày: Con tên Dương Hoàng Diệu A1, sinh ngày 16/3/2010. Hiện nay, con đang học lớp 7. Trường hợp ba, mẹ không còn sinh sống với nhau nữa con xin ở với ba vì ba là người chăm sóc con.
- Tại bản tự khai, cháu Dương Hoàng Minh Phát trình bày: Con tên Dương Hoàng Minh P1, sinh ngày 19/12/2011. Hiện nay, con đang học lớp 5. Trường hợp ba, mẹ không còn sinh sống với nhau nữa con xin ở với ba vì ba là người chăm sóc con.
- Ngày 06/02/2023, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn anh Dương Hoàng A và chị Hoàng Thị U tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường B và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, anh Dương Hoàng A không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường B tiến hành hòa giải. Hội liên hiệp phụ nữ phường B, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng anh Dương Hoàng A và chị Hoàng Thị U . Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mẫu thuẫn giữa anh, chị Hội liên hiệp phụ nữ phường B không biết được.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 22/02/2022 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: anh Dương Hoàng A và chị Hoàng Thị U kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B1, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 47 ngày 12/7/2010 đúng với quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Anh A xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, cụ thể: Hai vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không có sự đồng cảm, mỗi người có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, tình cảm vợ chồng không còn. Cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân tại Hội liên hiệp phụ nữ phường B nhưng Hội liên hiệp phụ nữ không biết nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ, chồng anh A và chị U. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập chị U đến Tòa án để hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị U không đến. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn có cơ sở xác định trong cuộc sống hôn nhân giữa anh A và chị U có nhiều mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng và cả hai đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của anh A là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh Dương Hoàng A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Dương Hoàng Diệu A1, sinh ngày 16/3/2010 và Dương Hoàng Minh P1sinh ngày 19/12/2011.
Xét, cháu Dương Hoàng Diệu A1 và Dương Hoàng Minh P1 hiện đang sống cùng anh A, anh A có công việc thu nhập ổn định, từ khi ly thân cho đến nay anh A là người trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A1 và cháu P1. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giao cháu A1 và cháu P1 cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung.
Về cấp dưỡng: Anh Dương Hoàng A không yêu cầu chị Hoàng Thị U cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của anh A nên Tòa án ghi nhận.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về quan điểm giải quyết vụ án.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Dương Hoàng A phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Dương Hoàng A về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn chị Hoàng Thị U.
1.1 Về hôn nhân: Anh Dương Hoàng A được ly hôn với chị Hoàng Thị U (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 47 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện B1, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 12/7/2010).
1.2 Về con chung: Giao con chung tên Dương Hoàng Diệu A1, sinh ngày 16/3/2010 và Dương Hoàng Minh P1, sinh ngày 19/12/2011 cho anh Dương Hoàng A trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau ly hôn, anh Dương Hoàng A và chị Hoàng Thị U đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
1.3 Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Dương Hoàng A không yêu cầu chị Hoàng Thị U cấp dưỡng nuôi con.
1.4 Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Dương Hoàng A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006016 ngày 10/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP. Dĩ An; - Chi cục THADS TP. Dĩ An; - TAND tỉnh Bình Dương; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |