vanban.org

Bản án 35/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly giữa anh Ngô Văn Q và chị Nguyễn Ngọc Th.

Về con chung: Giao con chung Ngô Văn Tr, sinh ngày 18/6/2019 cho chị Nguyễn Ngọc Th được trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ khi ly hôn đến khi con chung đã thành niên (đủ 18 tuổi); Anh Ngô Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Ngọc Th (do chị Nguyễn Ngọc Th tự nguyện không yêu cầu). Anh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly giữa anh Ngô Văn Q và chị Nguyễn Ngọc Th.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YL
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YL - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân T

Các hội thẩm nhân dân: Ông Thẩm Văn M; Ông Nguyễn Đức T

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YL tham gia phiên tòa: Ông Đinh Tiến K-

Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 về việc tranh về hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Ngô Văn Q, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Thôn ĐQ, xã TT, huyện VC, tỉnh Yên Bái

(Anh Q vắng mặt, đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1980. Có mặt.

Địa chỉ: Khu ĐT, xã ĐT, huyện YL, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình Tòa án giải quyết nguyên đơn anh Ngô Văn Q đã trình bày có nội dung: Anh và chị Th tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Thịnh, huyện YL, tỉnh Phú Thọ ngày 10/6/2019. Qúa trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không còn tôn trọng thương yêu nhau nữa, cả hai đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả, vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2023, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Th.

Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 01 con chung là Ngô Văn Tr, sinh ngày 18/6/2019. Sau ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, kể từ khi ly hôn đến khi con đã thành niên (đủ 18 tuổi), và tự nguyện không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung, về công nợ, công sức: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Bị đơn chị Nguyễn Ngọc Th trình bày: Về thời gian kết hôn quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn có nội dung như lời khai của anh Q mà Hội đồng xét xử đã công bố; Nay anh Ngô Văn Q xin ly hôn, chị nhất trí ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn.

Về con chung: Chị và anh Q có con chung như lời khai của anh Q mà Hội đồng xét xử đã công bố; Sau ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Ngô Văn Trường, sinh ngày 18/6/2019, kể từ khi ly hôn đến khi con đã thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh Ngô Văn Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung, về công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh Q và chị Th đều có mặt, tại phiên tòa hôm nay anh Q vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Th có mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Q theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định của Pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đều chấp hành đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đề nghị xét xử vắng mặt. Kiểm sát viên có quan điểm giải quyết vụ án:

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, điều 55, 57, 58, khoản 1,2 điều 81,82,83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Ngô Văn Q và chị Nguyễn Ngọc Th; Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Ngô Văn Tr, sinh ngày 18/6/2019 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi ly hôn đến khi con đã thành niên (đủ 18 tuổi) và không buộc anh Q cấp dưỡng do chị Th không yêu cầu; Về tài sản chung, công nợ, công sức đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Ngô Văn Q phải chịu 75.000đ. Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Nguyễn Ngọc Th vì chị Th là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Anh Ngô Văn Q có đơn xin ly hôn chị Th, bị đơn có địa chỉ tại xã Đồng Thịnh, huyện YL; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ.

Tại phiên tòa hôm nay anh Ngô Văn Q vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngô Văn Q.

Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Văn Q và chị Nguyễn Ngọc Th tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Thịnh, huyện YL, tỉnh Phú Thọ ngày 10/6/2019 đây là hôn nhân hợp pháp đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Nay anh Ngô Văn Q và chị Nguyễn Ngọc Th đều xác định tình cảm vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không còn tôn trọng thương yêu nhau, cả hai đã khắc phục nhưng không đạt kết quả; Nay anh Ngô Văn Q và chị Nguyễn Ngọc Th đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên thuận tình ly hôn. Do vậy, xử công nhận thuận tình ly giữa Anh Ngô Văn Q và chị Nguyễn Ngọc Th.

2.2. Về con chung: Anh Ngô Văn Q và chị Nguyễn Ngọc Th đều xác định vợ chồng có 01 con chung là Ngô Văn Tr, sinh ngày 18/6/2019. Anh Ngô Văn Q và chị Nguyễn Ngọc Th đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đều tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nếu được trực tiếp nuôi dưỡng; Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay con chung đang do chị Nguyễn Ngọc Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và đang học tại xã Đồng Thịnh, huyện YL, để đảm bảo sự ổn định và phát triển bình thường của con chung nên cần giao con chung Ngô Văn Tr sinh ngày 18/6/2019 cho chị Nguyễn Ngọc Th được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp; Anh Ngô Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Ngọc Th, do chị Nguyễn Ngọc Th tự nguyện không yêu cầu.

2.3. Về tài sản chung, công nợ, công sức: Anh Ngô Văn Q và chị Nguyễn Ngọc Th đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2.4. Về án phí: Anh Ngô Văn Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Ngọc Th là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 51, điều 55, 57, 58 khoản 1, 2 Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly giữa anh Ngô Văn Q và chị Nguyễn Ngọc Th.

Về con chung: Giao con chung Ngô Văn Tr, sinh ngày 18/6/2019 cho chị Nguyễn Ngọc Th được trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ khi ly hôn đến khi con chung đã thành niên (đủ 18 tuổi); Anh Ngô Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Ngọc Th (do chị Nguyễn Ngọc Th tự nguyện không yêu cầu). Anh Ngô Văn Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, chị Nguyễn Ngọc Th cùng các thành viên gia đình không ai được cản trở.

Về án phí: Anh Ngô Văn Q phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh Q đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án tại biên lai số AA/2020/0008717 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện YL, tỉnh Phú Thọ. Trả lại cho anh Ngô Văn Q số tiền 225.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Nguyễn Ngọc Th vì chị Th là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đương sự có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ