vanban.org

Bản án 35/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho bà Trương Thị Kiều D được ly hôn với ông Lê Văn Đ.

Về con chung: Giao con chung tên Lê Thị DM, sinh ngày 20/02/2017, giới tính nữ cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung tên Lê DQ, sinh ngày 11/4/2019, giới tính nam và Lê Thị MT, sinh ngày 21/12/2021, giới tính nữ cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Bà D và ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa bà D và ông Đ"
  • Tòa quyết gì? Cho bà Trương Thị Kiều D được ly hôn với ông Lê Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH THƯỢNG
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 35/2023/HNGĐ - ST.
Ngày: 31/5/2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Hổ

Ông Huỳnh Phước Tỷ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Út Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang: Ông Trần Ngọc Nhiều, Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 182/2022/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp “ Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 21/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Trương Thị KD, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. (bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2/ Bị đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. (ông Đ – vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo đơn khởi kiện vụ án hôn nhân đề ngày 13 tháng 6 năm 2022 nguyên đơn bà Trương Thị KD (sau đây gọi tắt là bà D) trình bày:

- Về hôn nhân: Bà D và ông Lê Văn Đ (sau đây gọi tắt là ông Đ) đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 05/10/2016 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau không thể hàn gắn tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên ông bà đã ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Nay bà D yêu cầu ly hôn với ông Đ.

- Về con chung: Bà D và ông Đ chung sống với nhau có 03 người con chung tên Lê Thị DM, sinh ngày 20/02/2017, giới tính nữ (hiện đang sống với ông Đ), Lê DQ, sinh ngày 11/4/2019, giới tính nam và Lê Thị MT, sinh ngày 21/12/2021, giới tính nữ, con chung tên Q và T đang sống với bà D. Bà D đồng ý giao con chung tên Lê Thị DM cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Bà D yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê DQ và Lê Thị MT, không yêu cầu ông Được cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn ông Lê Văn Đ đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để hòa giải và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên không có lời trình bày.

3. Tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được như sau: 03 Giấy khai sinh (bản sao), 01 bản tự khai, Trích lục giấy chứng nhận kết hôn số 160/2016, biên bản xác nhận tình trạng hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn, 01 đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bà Trương Thị Kiều D.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát: Về thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị KD, cho bà D ly hôn với ông Đ, giao con chung tên Lê Thị DM, sinh ngày 20/02/2017, giới tính nữ cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung tên Lê DQ, sinh ngày 11/4/2019, giới tính nam và Lê Thị MT, sinh ngày 21/12/2021, giới tính nữ cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, bà D và ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Trương Thị KD có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án xét xử vắng mặt đối với bà D. Bị đơn ông Lê Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do. Bị đơn ông Đ không có yêu cầu phản tố. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông Lê Văn Đ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông Đ đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 05/10/2016 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau không thể hàn gắn tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên ông bà đã ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Trong quá trình ly thân ông bà không có biện pháp hàn gắn tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay bà D yêu cầu ly hôn với ông Đ căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình là có cơ sở.

[3] Về con chung: Bà D và ông Đ chung sống với nhau có 03 người con chung tên Lê Thị DM, sinh ngày 20/02/2017, giới tính nữ đang sống với ông Đ, Lê DQ, sinh ngày 11/4/2019, giới tính nam và Lê Thị MT, sinh ngày 21/12/2021, giới tính nữ, hiện đang sống với bà D. Bà D đồng ý giao con chung tên Lê Thị DM cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng do DM đang sống với ông Đ. Bà D yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê DQ và Lê Thị MT do đang sống với bà D là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Bà D không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. Ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Đ và bà D có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

Trường hợp phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung trong thời kỳ hôn nhânsẽ được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà D phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0003416, ngày 31/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTHVQH14, ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Cho bà Trương Thị Kiều D được ly hôn với ông Lê Văn Đ.

2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Thị DM, sinh ngày 20/02/2017, giới tính nữ cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung tên Lê DQ, sinh ngày 11/4/2019, giới tính nam và Lê Thị MT, sinh ngày 21/12/2021, giới tính nữ cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Bà D và ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Đ và bà D có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trường hợp phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà D phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0003416, ngày 31/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng. Bà D đã nộp xong.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ