vanban.org

Bản án 35/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc G đối với anh Phạm Văn R, cho chị Phạm Thị Ngọc G ly hôn với anh Phạm Văn R.

Về con chung: Giao cháu Phạm Thanh N, sinh ngày 30/01/2008 cho anh Phạm Văn R tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Phạm Thị Ngọc G thống nhất tự nguyện cấp dưỡng hàng tháng cho cháu Phạm Thanh N, sinh ngày 30/01/2008 với mức cấp dưỡng mỗi tháng là ½ tháng lương cơ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc G đối với anh Phạm Văn R, cho chị Phạm Thị Ngọc G ly hôn với anh Phạm Văn R.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:35/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06-3-2023.
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly
hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Liệt

2. Ông Nguyễn Hoàng Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chí Phương – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 tháng 02 và ngày 06 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 305/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18c/2023/QĐXX-ST ngày 03 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ngọc G, sinh năm: 1981 (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp 2, xã P, huyện T, tỉnh Đ.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn R, sinh năm: 1977 (vắng mặt không có lý do);

Nơi cư trú: Số 511, ấp 2, xã P, huyện B, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/05/2022, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;

- Nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc G trình bày: Về hôn nhân chị G và anh R được mai mối và tự nguyện kết hôn, tổ chức đám cưới vào năm 1999, đến ngày 26/11/2002 đăng ký kết hôn tại UBND xã P. Chị G và anh R xây dựng nhà riêng tại địa chỉ số 511, ấp 2, xã P, huyện T, tỉnh Đ. Trong thời gian chung sống vợ chồng có mâu thuẩn do anh R uống rượu, chửi mắng và đánh đập nhiều lần, có lần anh R đuổi chị G không cho vào nhà nên chị G bỏ đi Bình Dương làm thuê từ năm 2017 và đã ly thân cho đến nay. Về con chung có 03 người con tên Phạm Thị Thúy K, sinh ngày 24/8/1999, Phạm Thị Bích P, sinh ngày 23/10/2001 đã trưởng thành tự lao động sinh sống được, Phạm Thanh N, sinh ngày 30/01/2008, hiện nay cháu N do anh R đang nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị Phạm Thị Ngọc G: Yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn R, con chung thống nhất giao cháu Phạm Thanh N, sinh ngày 30/01/2008 cho anh R nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành, chị G thống nhất cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật, cháu Thúy K và cháu Bích P đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Phạm Văn R: Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh R không cung cấp văn bản ý kiến về việc yêu cầu khởi kiện của chị G, cũng như tham dự phiên hòa giải và phiên tòa 02 lần nên Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh R về yêu cầu khởi kiện của chị G.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, khoản 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G đối với anh R, con chung tiếp tục giao cháu Phạm Thanh N, sinh ngày 30/01/2008 cho anh R nuôi dưỡng đến trưởng thành, chị G cấp dưỡng nuôi theo quy định pháp luật, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về pháp luật tố tụng:

[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phạm Văn R, hiện nay đăng ký thường trú ấp 2, xã P, huyện T, tỉnh Đ, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị G và anh R, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay chị G yêu cầu ly hôn với anh R, yêu cầu nuôi con, nên phát sinh tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn và nuôi con chung. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[1.4.] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh R vắng mặt lần thứ 2 không nêu lý do chính đáng. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn anh R cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh R là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị G và anh R là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống xuất phát từ mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống thường hay cự cải, anh R uống rượu, chửi mắng, đánh đập và đuổi chị G đi không cho vào nhà, dẫn đến mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, nhưng đến nay vẫn không hàn gắn đoàn tụ được.

Nay chị G yêu cầu ly hôn với R, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện, không ai cưởng ép hay ép buộc, cả hai phải tôn trọng, giúp đở, chăm sóc, giữ gìn hạnh phúc gia đình, để nuôi dạy con, nhưng giữa chị G và anh R không có sự gắn kết, không có tiếng nói chung, không tôn trọng nhau, mâu thuẩn trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, chị G và anh R đã ly thân thời gian dài từ năm 2017 đến nay, anh R đã được Tòa án thông báo hòa giải 02 lần để tạo cơ hội cho anh chị hàn gắn tình cảm, nhưng anh R không đến, từ đó cho thấy anh R không muốn hàn gắn đoàn tụ với chị G.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc G đối với anh Phạm Văn R phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung:

[2.2.1.] Về nuôi con chung chưa thành niên: Con chung tên Phạm Thanh N, sinh ngày 30/01/2008, chị G thống nhất giao cháu N cho anh R nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành. Anh R không có ý kiến hay yêu cầu về việc nuôi dưỡng con chung. Hiện nay cháu N đang do anh R chăm sóc, nuôi dưỡng và căn cứ nguyện vọng của cháu N là được anh R chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo cho cháu N có cuộc sống ổn định, phát triển tốt, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cháu và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên sau khi ly hôn và phù hợp với nguyện vọng của cháu N.

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị G đối với anh R, tiếp tục giao cháu Phạm Thanh N, sinh ngày 30/01/2008 cho anh Phạm Văn R nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị G có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu N không ai được cản trở.

[2.2.2.] Về cấp dưỡng cho con: Chị G thống nhất tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu N mỗi tháng là ½ tháng lương cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 110, Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị G.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc G phải chịu án phí hôn nhân gia đình là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng là 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, chị G phải nộp thêm 300.000đ.

Bị đơn anh Phạm Văn R không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 110, 116 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc G đối với anh Phạm Văn R, cho chị Phạm Thị Ngọc G ly hôn với anh Phạm Văn R.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thanh N, sinh ngày 30/01/2008 cho anh Phạm Văn R tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Phạm Thị Ngọc G thống nhất tự nguyện cấp dưỡng hàng tháng cho cháu Phạm Thanh N, sinh ngày 30/01/2008 với mức cấp dưỡng mỗi tháng là ½ tháng lương cơ sở đến khi cháu Phạm Thanh N đủ 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 06/3/2023.

Sau khi ly hôn, chị Phạm Thị Ngọc G không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Chị Phạm Thị Ngọc G không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Phạm Văn R có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của chị Phạm Thị Ngọc G.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con là 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị G đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010486 ngày 14/10/2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chị Phạm Thị Ngọc G còn phải nộp thêm số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Bị đơn anh Phạm Văn R không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 06/3/2023). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ