vanban.org

Bản án 35/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim N. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Kim N và anh Bùi Thanh S.

Về quan hệ con chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Kim N - Bùi Thanh S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim N. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Kim N và anh Bùi Thanh S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN HIỆP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST
Ngày 21/7/2023
Về việc“Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ái

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Trúc Phương

2. Bà Võ Thị Ngọc The

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Thiên Ân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: không tham gia.

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2023/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/ QĐXXST-HNGĐ ngày 21/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim N – sinh năm 1998 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp S, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

* Bị đơn: Anh Bùi Thanh S– sinh năm 1995 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã A1, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng chị Nguyễn Kim N trình bày:

Chị N và anh Bùi Thanh S có đăng ký kêt hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long vào năm 2019 và chung sống với nhau vào năm 2020. Trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước khoảng 01 năm mới tiến đến hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.

Vợ chồng chung sống được khoảng 05 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do anh S thường xuyên ăn nhậu tụ tập bạn bè, anh S không chịu đi làm, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau. Giai đoạn xảy ra đại dịch Covid anh S về quê sống cùng gia đình để chị N một mình ở lại Đồng Nai, từ đó vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Vợ chồng không sống chung với nhau từ tháng 4 năm 2021 cho đến nay không liên lạc với nhau.

- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng không có con chung.

- Về tài sản chung: Vợ Chồng không có tài sản chung.

- Về phần nợ chung: Vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng.

Tại Toà án chị N yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: chị N yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Thanh S

- Về con chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Bùi Thanh S, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh S vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: tại phiên toà hôm nay chị Nguyễn Kim N vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Bùi Thanh S với tư cách là bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay anh S vắng mặt. Xét thấy anh S đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh S vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh S là hôn nhân hợp pháp, vì anh chị chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 31/12/2019 theo đúng quy định của pháp luật. Phù hợp với Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị N cho thấy anh chị chung sống với nhau được 5 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, chị N cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do anh S thường xuyên ăn nhậu tụ tập bạn bè, anh S không chịu đi làm, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau. Giai đoạn xảy ra đại dịch Covid anh S về quê sống cùng gia đình để chị N một mình ở lại Đồng Nai, từ đó vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Vợ chồng không sống chung với nhau từ tháng 4 năm 2021 cho đến nay không liên lạc với nhau.

Sau khi thụ lý vụ án, tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh S không đến Tòa án để tham gia tố tụng, vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh S và anh Scũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị N. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau....”. Xét thấy thực tế giữa chị N và anh S không có cuộc sống chung từ tháng 4 năm 2021 cho đến nay, trong thời gian anh chị sống ly thân thì không quan tâm đến nhau, không ai có ý muốn hàn gắn cuộc sống tình cảm vợ chồng, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị N.

Về con chung: chị N xác nhận chị và anh S không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: chị N xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí HNST: Buộc chị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0002512 ngày 06/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ các Điều 9, 19, 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim N. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Kim N và anh Bùi Thanh S.

2. Về quan hệ con chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí HNST: Buộc chị Nguyễn Kim N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0002512 ngày 06/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ