vanban.org

Bản án 35/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị C.

Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị C ly hôn với anh Trần Xuân K. Việc nuôi con: Giao con chung Lê Song T, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2017 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh K do chị C không yêu cầu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Đức Tùng và bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thùy Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: Ông Hồ Diên Khoa - Kiểm sát viên

Trong ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 104/2023/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023 về yêu cầu “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị C, sinh năm 1991

Nơi ĐKHKTT: Đội 6, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Trần Xuân K, sinh năm 1987

Nơi ĐKHKTT: xóm A, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

Hiện đang chấp hành án tại phân trại số A, trại giam X, xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị C trình bày: Chị và anh Trần Xuân K kết hôn với nhau vào ngày 02 tháng 4 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, đã ly thân từ tháng 8 năm 2017 đến nay, không còn tình cảm với nhau nữa, quá trình ly thân anh Trần Xuân K đã vi phạm pháp luật và hiện đang đi chấp hành án tại trại giam X thuộc tỉnh Đồng Nai nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Xuân K.

Về con chung: Chị và anh Trần Xuân K có một con chung là Lê Song T, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2017. Ly hôn chị C có nguyện vọng được nuôi con chung Lê Song T vì chị là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung từ khi anh chị ly thân đến nay và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Trần Xuân K:

Quá trình giải quyết vụ án anh Trần Xuân K đang chấp hành án tại phân trại số A, trại giam X, xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nên Tòa án đã tiến hành ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tiến hành lấy lời khai của anh Trần Xuân K theo đúng quy định của pháp luật.

Trong biên bản lấy lời khai anh K trình bày: Về quan hệ hôn nhân: anh đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị C; Về con chung: anh K và chị Lê Thị C có một con chung là Lê Song T, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2017, ly hôn anh nhường quyền nuôi con chung cho chị C và chị C không cấp dưỡng nuôi con thì anh đồng ý; Về tài sản, nợ chung: anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh K đã nhận đầy đủ các tài liệu chứng cứ và có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa chị Lê Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xác định mâu thuẫn giữa chị và anh K đã thực sự trầm trọng, bản thân không còn tình cảm với anh K và yêu cầu được ly hôn.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị C là cho ly hôn với anh Trần Xuân K; Việc nuôi con: đề nghị hội đồng xét xử giao con chung Lê Song T, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2017 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành; Về án phí: chị Lê Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị C có nơi cư trú tại Đội 6, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa yêu cầu ly hôn với anh Trần Xuân K là bị đơn có nơi cư trú tại xóm A, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Trần Xuân K có hộ khẩu thường trú tại xóm A, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An nhưng hiện đang chấp hành án tại phân trại số A, trại giam X, xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã đã tiến hành ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai giao các tài liệu và chứng cứ, lấy lời khai của anh Trần Xuân K theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị C và anh Trần Xuân K kết hôn với nhau vào ngày 02 tháng 4 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, đã ly thân từ tháng 8 năm 2017 đến nay, không còn tình cảm với nhau nữa, quá trình ly thân anh Trần Xuân K vi phạm pháp luật và hiện đang chấp hành án tại trại giam X thuộc tỉnh Đồng Nai. Xét thấy tình cảm giữa chị C và anh K không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị C.

2.2. Về con chung: Chị Lê Thị C và anh Trần Xuân K có một con chung là Lê Song T, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2017. Quá trình chị C và anh K sống ly thân thì con chung Lê Song T ở với chị C. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung Lê Song T cho chị C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành là phù hợp.

2.3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh K do chị C không yêu cầu.

2.4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị C và anh Trần Xuân K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn Chị Lê Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; điểm b khoản 2 điều 227, điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58, điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị C.

1.Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị C ly hôn với anh Trần Xuân K.

2.Việc nuôi con: Giao con chung Lê Song T, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2017 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh K do chị C không yêu cầu.

Anh Trần Xuân K có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án chị Lê Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0003981 ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

4. Nguyên đơn chị Lê Thị C có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Trần Xuân K có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ