- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn bà T và ông N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị T được ly hôn ông Trần Thế N.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST Ngày 16-6-2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Dịu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Khúc Thị Minh
Bà Phan Thị Minh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1960; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Thế N, sinh năm 1962; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 06 tháng 4 năm 2023 và các lời khai trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Ngô Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà tự nguyện chung sống với ông Trần Thế N từ năm 1987, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ (nay là huyện K), thành phố Hải Phòng từ ngày 06 tháng 3 năm 1987. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trầm trọng từ tháng 1 năm 2012, do ông N thường xuyên uống rượu và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm đến cuộc sống chung gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên xúc phạm nhau. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2012 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà xin ly hôn ông N.
Về con chung: Ông bà có hai con chung là Trần Thế D, sinh ngày 25 tháng 01 năm 1988; Trần Thị Ánh N, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1990 đều đã thành niên, xây dựng gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 05 tháng 5 năm 2023, ông Trần Thế N trình bày thống nhất với bà Ngô Thị T về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trầm trọng từ đầu năm 2012, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng nhau trong cuộc sống hàng ngày, bà T không biết đối nhân xử thế, không quan tâm đến gia đình, từ đó vợ chồng thường xuyên xúc phạm nhau và sống ly thân từ giữa năm 2012 đến nay không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, ông đồng ý ly hôn bà T.
Về con chung: Ông bà có hai con chung như bà T đã trình bày, nay các cháu đều đã thành niên, xây dựng gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tuy Nên, khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; ông N vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bà T giữ nguyên toàn bộ nội dung, yêu cầu nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị T; cho bà Ngô Thị T được ly hôn ông Trần Thế N.
- Về con chung: Ông bà có hai con là Trần Thế D, sinh ngày 25 tháng 01 năm 1988; Trần Thị Ánh N, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1990 đều đã thành niên, xây dựng gia đình riêng, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về tài sản, công nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Bà Ngô Thị T là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Ngô Thị T xin ly hôn ông Trần Thế N tại Tòa án nhân dân huyện K. Ông N đang cư trú tại xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K.
Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Ông Trần Thế N (là bị đơn) vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị T xin ly hôn ông Trần Thế N; căn cứ vào lời khai của các bên đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thì hôn nhân của bà Ngô Thị T và ông Trần Thế N là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống, ông bà phát sinh mâu thuẫn trầm trọng từ đầu năm 2012, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng nhau về tình cảm cũng như xây dựng kinh tế gia đình, từ đó thường xuyên xúc phạm nhau và sống ly thân từ giữa năm 2012 đến nay không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Như vậy đủ cơ sở xác định hôn nhân của ông bà thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; yêu cầu xin ly hôn của bà T có cơ sở chấp nhận nên xử cho bà T được ly hôn ông N là phù hợp với các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng như ý kiến của ông N tại biên bản lấy lời khai và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về con chung: Ông bà có 02 con là Trần Thế D, sinh năm 1988; Trần Thị Ánh N, sinh năm 1990 đều đã thành niên, xây dựng gia đình riêng, các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản, công nợ: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Bà Ngô Thị T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị T được ly hôn ông Trần Thế N.
2. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Ngô Thị T.
4. Về quyền kháng cáo: Bà Ngô Thị T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Trần Thế N có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TANDTP Hải Phòng; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - UBND xã T; - UBND thị trấn N; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dịu |