- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "* Nguyên đơn: - Chị Trương Thị T, sinh năm: 1994 (Vắng mặt) Địa chỉ: Ấp Đào Viên, xã Thạnh Qưới, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng * Bị đơn: -…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ…
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09/05/2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tài Em.
2. Ông Liêu Tài Ngoánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 05 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 412/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXX- ST ngày 22 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: - Chị Trương Thị T, sinh năm: 1994 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đào Viên, xã Thạnh Qưới, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng
* Bị đơn: - Anh Đinh Bé L, sinh năm: 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Hậu bối II, xã Minh Diệu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử nguyên đơn là chị Trương Thị T trình bày: Chị và anh Đinh Bé L xây dựng hôn nhân vào năm 2017. Có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạnh Qưới, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Hai vợ chồng có 01 người con chung tên Đinh Bảo Anh, sinh ngày: 16/04/2018 hiện tại đang sống với chị. Hai vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chị là do hai vợ chồng tôi bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã dân đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện tại hai vợ chồng chị đã sống ly thân với nhau. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Đinh Bé L, yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không có nên không yêu cầu.
Đối với bị đơn là anh Đinh Bé L, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt theo quy định của pháp luật các văn bản tố tụng yêu cầu anh Đinh Bé L cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị T, nhưng anh Đinh Bé L không cung cấp, cũng không có ý kiến bằng văn bản là đã từ bỏ quyền lợi của mình thông qua việc không tham gia tố tụng theo triệu tập của Tòa án. Vì vậy, Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết .
Ý kiến của kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị T đối với anh Đinh Bé L; Giao cháu Đinh Bảo Anh, sinh ngày: 16/04/2018 cho chị Trương Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Đinh Bé L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Trương Thị T không yêu cầu. Anh Đinh Bé L được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở. Về án phí chị Trương Thị T phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứ u các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án được thẩm tra tại phiê n tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn là chị Trương Thị T và anh Đinh Bé L ngụ tại địa chỉ huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Tại phiên tòa, chị Trương Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh Đinh Bé L được Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T và anh Đinh Bé L xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạnh Qưới, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng nên hôn nhân giữa chị Trương Thị T và anh Đinh Bé L là hợp pháp được Luật hôn nhân và gia đình bảo vệ. Chị Trương Thị T cho rằng trong quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng quan điểm, sống không hợp. Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị Trương Thị T và anh Đinh Bé L không biết tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc và hiện tại vợ chồng chị không còn chung sống với nhau; điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị và anh Đinh Bé L đã có xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị T đối với anh Đinh Bé L.
Về quan hệ con chung: Chị Trương Thị T và anh Đinh Bé L sống chung có 01 con chung tên Đinh Bảo Anh, sinh ngày: 16/04/2018, hiện cháu Đinh Bảo Anh đang ở với chị Trương Thị T. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Đinh Bảo Anh đang ở với chị Trương Thị T ổn định nên tiếp tục giao cháu Đinh Bảo Anh cho chị Trương Thị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đinh Bé L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Trương Thị T không yêu cầu. Anh Đinh Bé L được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị T xác định tự thỏa thuận xong và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị Trương Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị T đối với anh Đinh Bé L, xử cho ly hôn giữa chị Trương Thị T và anh Đinh Bé L.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Đinh Bảo Anh, sinh ngày: 16/04/2018 cho chị Trương Thị T tiếp tục nuôi duỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Đinh Bé L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Trương Thị T không yêu cầu. anh Đinh Bé L được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở
3. Về án phí: Chị Trương Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Trương Thị T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003487 ngày 07/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
4. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhâ ̣n được bản án hoă ̣c tống đa ̣t hợp lệ. Nơi nhận:
| - Đương sư; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hòa Bình; - Chi cục THADS huyện Hòa Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Nam |