- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quàng Thị C với anh Lường Văn T."
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Quàng Thị C với anh Lường Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 35/2023/HNGĐ- ST Ngày: 09/3/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Thanh Bình.
Ông Nguyễn Quang Khải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hoà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên;
Ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2023/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 23 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Quàng Thị C; sinh năm: 1994.
Nơi thường trú: Bản L, xã MP, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên.
Chỗ ở hiện nay: Bản NT 1, xã NT, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên, có mặt tại phiên toà.
2. Bị đơn: Anh Lường Văn T; sinh năm: 1990.
Nơi thường trú: Bản L, xã MP, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên (Hiện đang chấp hành án tại: Đội 20, Phân trại I, Trại giam Nà Tấu, xã Nà Tấu, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên), vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/02/2023 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Quàng Thị C trình bày:
1. Về hôn nhân: Chị Quàng Thị C và anh Lường Văn T có đăng ký kết hôn tại UBND xã NT, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên vào ngày 02/4/2018, kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Trong thời gian đầu cuộc sống của vợ chồng có hạnh phúc sau đó thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chính là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, mâu thuẫn càng ngày càng đến đỉnh điểm. Năm 2019 vợ chồng chị đã sống ly thân, chị C đã chuyển về nhà bố mẹ sinh sống tại bản NT 1, xã NT, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên cho đến nay. Đến năm 2020 anh T bị Toà án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo bản án số: 128/2020/HS- ST ngày 30/6/2020. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy chị C làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân huyện ĐB xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lường Văn T.
2. Về con chung: Chị Quàng Thị C và anh Lường Văn T có 01 con chung là cháu Lường Tuấn Tài; sinh ngày 10/10/2017. Quan điểm của chị C sau khi ly hôn sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Chị C khai không có.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo các nội dung và yêu cầu cụ thể của chị C cho anh Lường Văn T biết để anh T thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Tại bản tự khai đề ngày 14 tháng 02 năm 2023 và trong đơn xin vắng mặt bị đơn anh Lường Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Anh T và chị C có đăng ký kết hôn tại UBND xã NT, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên vào ngày 02/4/2018, kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Trong thời gian đầu cuộc sống của vợ chồng có hạnh phúc sau đó thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chính là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, mâu thuẫn càng ngày càng đến đỉnh điểm. Năm 2019 vợ chồng anh chị đã sống ly thân, năm 2020 anh T bị Toà án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nay chị C làm đơn xin ly hôn. Quan điểm của anh T đồng ý ly hôn với chị C.
Về con chung: Anh Lường Văn T và chị Quàng Thị C có 01 con chung là cháu Lường Tuấn Tài; sinh ngày 10/10/2017. Quan điểm của anh T là sau khi ly hôn con chung sẽ do bố mẹ đẻ của anh T là ông Lường Văn Pản và bà Quàng Thị Đanh đang sinh sống tại Bản L, xã MP, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên là người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tuấn Tài cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác vì anh T cho rằng chị C đi làm không có điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Tài sản riêng; Tài sản chung; Nợ phải trả; Nợ lấy về và diện tích ruộng: Anh T khai không có.
Hiện anh T đang chấp hành hình phạt tù trong Trại giam nên anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Quàng Thị C vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lường Văn T và giải quyết quan hệ con chung theo nội dung đơn xin ly hôn chị C đã trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Quàng Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lường Văn T. Đây là vụ án về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Anh T hiện nay đang chấp hành án tại Đội 20, Phân trại I, Trại giam Nà Tấu, , xã Nà Tấu, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điên Biên, trước khi bị bắt anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại Bản L, xã MP, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên.
Bị đơn đang chấp hành án trong trại giam nên quá trình giải quyết Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Bị đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
[2.1] Xét về hôn nhân: Chị Quàng Thị C và anh Lường Văn T kết hôn vào ngày 02/4/2018 tại UBND xã NT, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên ,Anh chị kết hôn với nhau là tự nguyện, không bị ai ép buộc và tuân thủ đầy đủ các qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo qui định tại Điều 8; Điều 9 Luật hôn nhân gia đình nên quan hệ giữa chị C và anh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Đến năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Sau đó anh T bị Tòa án xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, hiện nay đang chấp hành án tại Đội 20, Phân trại I, Trại giam Nà Tấu. Tại bản tự khai ngày 14/02/2023 anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc và bản thân lại đang chấp hành án tại Trại giam Nà Tấu, xã Nà Tấu, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, không có điều kiện chăm sóc gia đình, anh T không làm tròn trách nhiệm của người chồng dẫn đến tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào qui định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị C.
[2.2] Xét về con chung: Anh T và chị C có 01 con chung là cháu Lường Tuấn Tài; sinh ngày 10/10/2017. Chị C có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu cho đến tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác.
Tại bản tự khai 14/02/2023 anh T trình bày, nguyên vọng của anh T sau khi ly hôn con chung là cháu Lường Tuấn Tài sẽ do bố mẹ đẻ của anh T là ông Lường Văn Pản và bà Quàng Thị Đanh đang sinh sống tại Bản L, xã MP, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên là người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tuấn Tài cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác vì anh T cho rằng chị C đi làm không có điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy rằng hiện tại anh T đang chấp hành án tại Trại giam Nà Tấu, xã Nà Tấu, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, anh T không thể có điều kiện nuôi dưỡng cháu Tuấn Tài, việc anh T mong muốn con chung sẽ do bố mẹ đẻ của anh nuôi dưỡng, chăm sóc như vậy sẽ trái với quy định của pháp luật. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi cho cháu và đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của trẻ. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C, giao con chung cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác.
Hiện tại anh T đang chấp hành án không có khả năng cấp dưỡng nên HĐXX chấp nhận việc chị C không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung, không ai được cản trở.
[2.3] Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, Tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không có.
Về nghĩa vụ chịu án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Quàng Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên chị C là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chị C có đơn xin miễn án phí. HĐXX chấp nhận miễn án phí DSST cho chị Quàng Thị C.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81 Điều 82, Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Quàng Thị C với anh Lường Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lường Tuấn Tài; sinh ngày 10/10/2017 cho chị Quàng Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu thành niên hoặc khi có thay đổi khác.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về chia tài sản chung; Tài sản riêng; Tài sản chung; Nợ phải trả; Nợ lấy về; diện tích ruộng: Không có.
4. Về án phí: Miễn 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm cho chị Quàng Thị C.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Quàng Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lường Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND HĐB; - Các đương sự; - UBND xã NT, HĐB, tỉnh ĐB; - Chi cục THADS HĐB; - Lưu VP; - Tòa án tỉnh ĐB; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẦM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |