vanban.org

Bản án 35/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thu D được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà D ly hôn với ông H"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/4/2023
V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Dân

2. Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Cù Thị Kim Mai- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân Gia đình thụ lý số 511/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn Bà Lê Thị Thu D, sinh năm 1982 (Có Đơn xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 3, ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 3, ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

Nơi làm việc: Công ty TNHH S, 16 Đại Lộ B, phường X, TP Y, Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai cùng ngày 27/7/2022– Bà Lê Thị Thu D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H do tìm hiểu quen biết và tiến tới hôn nhân, chung sống vào năm 2000, có làm đám cưới. Ông bà đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã V vào ngày 06 tháng 4 năm 2010. Cuộc sống vợ chồng chung sống hạnh phúc không bao lâu thì ông bà xảy ra mâu thuẫn. Do ông H thường xuyên tham gia cờ bạc, không lo cho vợ con. Mặc dù bà D đã nhiều lần khuyên can và chịu đựng nhiều năm nhưng ông H vẫn không thay đổi mà còn tiếp tục cờ bạc nhiều hơn trước. Đến tháng 01 năm 2022, bà D và ông H sống ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy không thể sống chung cuộc sống vợ chồng với ông H, tình cảm giữa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn đoàn tụ nên bà yêu cầu ly hôn với ông H.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Đan O, sinh ngày 14/3/2001; Nguyễn Trọng P, sinh ngày 10/02/2010 hiện cháu P đang do bà nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – Ông Nguyễn Văn H: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông không đến Tòa án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà D.

Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án: Biên bản không lấy được lời khai của ông Nguyễn Văn H ngày 02/3/2023; Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 02/3/2023.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Vắng mặt và có Đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Vắng mặt

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

+ Việc chấp hành pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về hôn nhân: Bà D được ly hôn với ông H; Về con chung: Bà D được tiếp tục nuôi 01 con chung là cháu Nguyễn Trọng P, sinh ngày 10/02/2010, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu; Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Bà D không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà D phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà D có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông H do vậy xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1.2 Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại tổ 3, ấp T, xã V, huyện C, An Giang. Do đó, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn - Bà D vắng mặt tại phiên toà, tuy nhiên bà đã có Đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp theo quy định nên được chấp nhận; Bị đơn – Ông H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về phiên đối chất, Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông H vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà D và ông H.

Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân: Bà D và ông H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang ngày 06/4/2010 theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp.

Quá trình chung sống giữa bà D và ông H xảy ra mâu thuẫn không thể khắc phục, theo bà D nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và ông H thường xuyên cờ bạc, không quan tâm chăm lo cho gia đình, hiện nay ông bà không còn tình cảm, ông bà đã ly thân từ tháng 01 năm 2022 đến nay. Nay bà kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông H.

Theo Biên xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà D với ông H ngày 02/3/2023 (Bút lục 43-44), bà Nguyễn Thị Thu T2 là mẹ ruột của bà D trình bày: Về mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông H theo bà là do bất đồng trong việc tiền bạc của vợ chồng, do ông H đi làm có tiền nhưng không gửi tiền về lo cho vợ con nên vợ chồng cự cãi, nảy sinh bất đồng trong tình cảm vợ chồng, thời gian sau bà D được biết ông H có quan hệ tình cảm với người khác nên bà D gửi Đơn ly hôn ra Toà án, ông H cũng biết nhưng không có ý kiến gì, H có nói do phải đi làm không về được nên yêu cầu H cứ giải quyết thủ tục ly hôn theo quy định, nên theo bà giữa bà D và ông H không có khả năng đoàn tụ do hiện nay H đã có gia đình khác.

Từ những nội dung nêu trên, xét thấy cuộc hôn nhân hiện nay giữa bà D và ông H lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc duy trì quan hệ hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D, bà D được ly hôn với ông H.

2.2 Về con chung: Giữa bà D và ông H có 02 con chung Nguyễn Đan O, sinh ngày 14/3/2001 và Nguyễn Trọng P, sinh ngày 10/02/2010. Cháu O đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà D không yêu cầu giải quyết; Đối với cháu P hiện đang do bà D nuôi dưỡng, sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy từ lúc bà D và ông H ly thân đến nay, cháu P do bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bên cạnh, tại các Tờ ghi ý kiến của con thì thấy cháu P có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ là bà D sau khi cha mẹ ly hôn. Về phía ông H không có ý kiến về việc nuôi con. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống của con chung hội đồng xét xử quyết định giao các con chung cho bà D được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Bà D phải tạo điều kiện cho ông H trong việc tới lui thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do bà D không yêu cầu nên ông H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn Nhân và Gia đình.

2.3 Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm:

Bà D là nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bà D và ông H có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thu D được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 06 tháng 4 năm 2010 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện C , tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Giao 01 con chung là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 10/02/2010 cho bà Lê Thị Thu D được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu P đủ 18 tuổi.

Bà D phải tạo điều kiện cho ông H trong việc tới lui thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do bà D không yêu cầu nên ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn Nhân và Gia đình.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Thu D phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003906 ngày 25/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

4. Quyền kháng cáo:

Bà Lê Thị Thu D và ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ