vanban.org

Bản án 35/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P.

Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị P và ông Lê Quốc V là vợ chồng. Về con chung: Giáo cháu Lê Minh Chí, sinh ngày 08/3/2007 cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng. Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị P - Lê Quốc V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/02/2023
V/v “Không công nhận vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Vương

2. Ông Hoàng Xuân Niêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 17 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 469/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 về việc tranh chấp không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P; Sinh năm: 1972 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

2. Bị đơn: Ông Lê Quốc V; Sinh năm: 1966 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Cùng địa chỉ: xã T, huyện B, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông V tự nguyện chung sống vói nhau từ năm 1994 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống gia đình không hạnh phúc nên ông bà đã không còn chung sống với nhau khoảng 07 năm nay.Vì vậy, bà yêu cầu ly hôn với ông V.

Về con chung: Có 03 con chung tên Lê Mỹ Linh – sinh năm 1995, Lê Mỹ Dân – sinh năm 2004 và Lê Minh Chí sinh ngày 08/3/2007. Cháu Linh và cháu Dân đã trưởng thành. Khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Minh Chí, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 16/02/2023, bị đơn ông Lê Quốc V trình bày:

Ông V thống nhất với lời trình bày của bà P về các vấn đề hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Do quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn nên ông cũng thống nhất ly hôn với bà P.

Về con chung: Có 03 con chung, cháu Lê Mỹ Linh và Lê Mỹ Dân đã trưởng thành. Khi ly hôn ông V tự nguyện giao cháu Lê Minh Chí - sinh ngày 08/3/2007 cho bà P được tiếp tục nuôi dưỡng, ông V không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do đi làm ăn xa nên bà P và ông V yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông bà cho đến khi kết thúc vụ án .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị P khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn là ông Lê Quốc V. Do ông bà chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc không công nhận vợ chồng; Ông V có nơi cư trú tại, xã T, huyện B, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị P và ông Lê Quốc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử sơ thẩm nhưng bà P và ông V đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với Bà Nguyễn Thị P và ông Lê Quốc V.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà P và ông V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1994 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống gia đình không hạnh phúc nên ông bà đã không còn chung sống với nhau khoảng 07 năm nay. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông V chưa tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống bà P và ông V có điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận bà Nguyễn Thị P và ông Lê Quốc V là vợ chồng.

- 2 -

Về con chung: Có 03 con chung tên Lê Mỹ Linh – sinh năm 1995, Lê Mỹ Dân – sinh năm 2004 và Lê Minh Chí, sinh ngày 08/3/2007. Cháu Linh và cháu Dân đã trưởng thành. Khi ly hôn ông bà tự nguyện thỏa thuận giao cháu Chí cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng nên cần giao cháu Chí cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Do bà P không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Ông V không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Bà P và ông V xác định không có, không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà P và ông V xác định trong quá trình chung sống ông bà không nợ ai và cũng không ai nợ lại ông bà nên không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà P phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị P và ông Lê Quốc V.

Áp dụng các Điều 14, 53, 15, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P.

Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị P và ông Lê Quốc V là vợ chồng.

Về con chung: Giáo cháu Lê Minh Chí, sinh ngày 08/3/2007 cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng. Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông V không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 12 tháng 12 năm 2022 bà P có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003223 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu và đối trừ án phí.

- 3 -

3. Bà P và ông V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ