vanban.org

Bản án 35/2023/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M).

Buộc các bị đơn ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ cho ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M) số tiền là 70.289.000 đồng (bảy mươi triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng). Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Trần Đại H có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M).
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/DS-ST
Ngày: 19/5/2023
V/v Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Bà Phạm Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến, Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 230/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 12 năm 2022 về việc“Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2023/QĐST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Đại H, sinh năm 19XX (chủ hộ kinh doanh T Q M);

Địa chỉ: Số nhà UU, khóm T N, phường K H, thị xã V C, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Diễm M, sinh năm 19UU (văn bản ủy quyền lập ngày 15/11/2022, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Số nhà UU, khóm T N, phường K H, thị xã V C, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Hứa Văn T, sinh năm 19TT (có mặt).

2.2. Bà Trần Thị T1, sinh năm 19RR (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Nhà số EE, khóm N Ú, phường K H, thị xã V C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 15/11/2022 của nguyên đơn và tại phiên hòa giải ngày 03/01/2023 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Đại H trình bày:

Ngày 13/4/2021 ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M), ký kết Hợp đồng mua bán số 98/2021/HĐMB – HKD về việc mua bán thức ăn nuôi tôm do Công ty V H sản xuất và thuốc thủy sản với ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1. Tuy nhiên, sau khi thu hoạch tôm ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ như đã thỏa thuận. Vào ngày 06/12/2021 hai bên đối chiếu nợ, ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 còn liên đới nợ tiền mua thức ăn và thuốc thủy sản của ông Trần Đại H với số tiền là 70.289.000 đồng (bảy mươi triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng).

Nay nguyên đơn ông Trần Đại H yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc các bị đơn ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền nợ nêu trên là 70.289.000 đồng (bảy mươi triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng). Về lãi suất chậm trả ông Trần Đại H không có yêu cầu.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Hứa Văn T trình bày: Ông Hứa Văn T thống nhất với nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M) và thừa nhận vợ chồng ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 còn nợ tiền thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản của ông Trần Đại H với số tiền là 70.289.000 đồng (bảy mươi triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng). Do nuôi tôm thất mùa nên không có tiền trả cho ông Trần Đại H như đã thoả thuận.

Đối với bị đơn bà Trần Thị T1: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã T hành thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp để kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật và triệu tập hợp lệ đối với bà Trần Thị T1 nhưng bà Trần Thị T1 vắng mặt và không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Tòa án đã T hành mở phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 210 của Bộ luật tố tụng dân sự và Tòa án có thông báo kết quả mở phiên họp cho bà Trần Thị T1 biết.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn Trần Thị T1 chưa chấp hành tốt theo giấy triệu tập của Tòa án tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải và phiên tòa. Về thời hạn giải quyết vụ án: Tòa án thực hiện đúng theo quy định khoản 1 Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M).

Buộc các bị đơn Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ cho ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M) với số tiền là 70.289.000 đồng (bảy mươi triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M) được chấp nhận nên các bị đơn Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 phải liên đới chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M) khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ tiền mua thức ăn nuôi tôm, thuốc thủy sản với số tiền là 70.289.000 đồng (bảy mươi triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Tòa án thụ lý giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Tại phiên tòa: Bị đơn bà Trần Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 T hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà Trần Thị T1 theo quy định của pháp luật.

Đối với người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Trần Diễm M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử T hành xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M) với vợ chồng ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 ký kết Hợp đồng mua bán số 98/2021/HĐMB – HKD ngày 13/4/2021 về việc mua bán thức ăn nuôi tôm do Công ty V H sản xuất và thuốc thủy sản. Hai bên thỏa thỏa thuận sau khi kết thúc vụ nuôi sẽ thanh toán nợ cho ông Trần Đại H. Tuy nhiên, sau khi thu hoạch tôm vợ chồng ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 không thanh toán nợ đầy đủ cho ông Trần Đại H như đã thỏa thuận. Tính đến ngày 06/12/2021 hai bên đối chiếu nợ thì ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 còn liên đới nợ tiền mua thức ăn và thuốc thủy sản của ông Trần Đại H với số tiền là 70.289.000 đồng (bảy mươi triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng). Việc hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản giữa ông Trần Đại H với ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 gồm có: Hợp đồng mua bán lập ngày 13/4/2021; Bảng đối chiếu xác nhận nợ ngày 06/12/2021. Đồng thời, tại phiên tòa ông Hứa Văn T thừa nhận còn nợ tiền thức ăn tôm và thuốc thủy sản của ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M) như đã nêu trên. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì nguyên đơn ông Trần Đại H không cần phải chứng minh.

Về lãi suất chậm trả: Trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Đại H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Từ những nhận định nêu trên, căn cứ vào các Điều 430; 440; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M). Buộc các bị đơn ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ cho ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M) với số tiền là 70.289.000 đồng (bảy mươi triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đại H được chấp nhận nên các bị đơn ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 5; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 146, 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Các Điều 288, 430; 440; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M).

Buộc các bị đơn ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ cho ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M) số tiền là 70.289.000 đồng (bảy mươi triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Trần Đại H có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 còn liên đới trả lãi cho ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M) theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Các bị đơn ông Hứa Văn T và bà Trần Thị T1 phải liên đới chịu số tiền là 3.514.450 đồng (ba triệu năm trăm mười bốn nghìn bốn trăm năm mươi đồng).

- Nguyên đơn ông Trần Đại H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Trần Đại H (chủ hộ kinh doanh T Q M) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp với số tiền là 1.757.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006021 ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

Cỡ chữ