- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Th; giữ nguyên bản án số 56/2022/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi.
- Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/DS-PT Ngày 25 - 7 - 2023 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Lan
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Đức Dũng
Bà Trần Thị Túc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Như – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Bùi Thị Thanh Hiền – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2023/TLPT-DS ngày 31/01/2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 56/2022/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐ-PT ngày 31/3/2023, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 57/2023/QĐ-PT ngày 26/4/2023, Thông báo về việc chuyển ngày xét xử số 267/TB-TA ngày 16/5/2023 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 410/TB-TA ngày 04/7/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Th - sinh năm 1959; cư trú tại tổ a, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Đức Nh – Luật sư của Văn phòng Luật sư C thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ số x đường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T1 - sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị T2 - sinh năm 1961; cư trú tại hẻm y đường P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Nơi ĐKHKTT: Tổ z, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hồ Văn N - sinh năm 1972; cư trú tại số 410 đường P, thuộc tổ q, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Bà Phạm Thị Thanh T4 - sinh năm 1967; cư trú tại số nhà 522 đường N, tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hồ Văn N và bà Phạm Thị Thanh T4: Ông Trần S – Luật sư của Công ty Luật V, thành phố Hồ Chí Minh - Chi nhánh Quảng Ngãi; địa chỉ số b đường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng Công chứng P); địa chỉ số 353 đường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
4. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q; địa chỉ số c, đường ND, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Huy A - Chi cục trưởng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh B – Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q.
5. Bà Trần Thị Bích S - sinh năm 1956; cư trú tại số 742 đường V, thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
6. Bà Phạm Thị Hằng Ng - sinh năm 1969; cư trú tại số nhà 491 đường N, tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị Bích S và bà Phạm Thị Hằng Ng: Ông Trần Văn N – Luật sư Văn phòng Luật sư T; địa chỉ số 185 đường P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
7. Bà Bùi Thị Mai T3 - sinh năm 1984; cư trú tại số 672 đường V, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người kháng cáo: Ông Phạm Th là nguyên đơn.
(Ông Phạm Th, Luật sư Trần Đức Nh, bà Phạm Thị Thanh Th, ông Hồ Văn N, Luật sư Trần S, bà Trần Thị Bích S, bà Phạm Thị Hằng Ng, Luật sư Trần Văn N có mặt; đại diện Văn phòng Công chứng P + Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q, bà Nguyễn Thị T2, bà Bùi Thị Mai T3 có đơn xin vắng mặt; ông Nguyễn Ngọc T1 vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2019, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 10/01/2020, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Phạm Th trình bày:
Thửa đất số 1737, diện tích 272,2m2 (trong đó có 100m2 đất ở và 172,2m2 đất trồng cây hàng năm khác), tờ bản đồ số 21, phường Lê Hồng Phong, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) thành phố Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) cho bà Nguyễn Thị T2 vào ngày 26/6/2008 (viết tắt là thửa 1737) là tài sản chung của ông Nguyễn Ngọc T1, bà Nguyễn Thị T2. Ngày 10/10/2014, ông T1 và bà T2 thế chấp thửa 1737 để bảo lãnh cho Công ty trách nhiệm hữu hạn TP (viết tắt là Công ty TP) do ông T1 làm Giám đốc để vay tiền tại Ngân hàng A (viết tắt là Ngân hàng). Do Công ty TP vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 09/3/2017, Ngân hàng có văn bản thông báo cho Công ty TP và hộ gia đình bà T2, ông T1 biết từ ngày thông báo đến ngày 20/3/2017 phải trả nợ, nếu không trả nợ thì Ngân hàng sẽ thanh lý tài sản thế chấp hoặc khởi kiện ra cơ quan pháp luật để thu hồi nợ vay. Do kinh doanh thua lỗ, không có khả năng trả nợ và được sự thống nhất của các thành viên trong hộ gia đình bà T2 nên ngày 21/3/2017, Công ty TP có đơn xin bàn giao tài sản thế chấp và cùng ngày đã bàn giao tài sản thế chấp để bán thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Tại Biên bản bàn giao tài sản ngày 21/3/2017, hai bên thống nhất biện pháp giải quyết là chậm nhất đến ngày 30/3/2017, Công ty TP hoặc Ngân hàng tìm người bán tài sản đã bàn giao để trả nợ. Do không tìm được người nhận chuyển nhượng trong thời hạn đã ấn định theo thỏa thuận tại Biên bản ngày 21/3/2017, nên ngày 01/6/2017 giữa ông với ông T1, bà T2 thỏa thuận, thống nhất ông nhận chuyển nhượng thửa 1737 với giá 1.000.000.000 đồng và cùng ngày, ông đã giao cho bà T2 1.000.000.000 đồng để bà T2 trả nợ Ngân hàng. Bà T2 đã đưa số tiền này cho bà Bùi Thị Mai T3 để bà T3 nộp vào Ngân hàng và nhận lại GCNQSDĐ đã thế chấp tại Ngân hàng. Bà T3 có viết giấy nhận 1.000.000.000 đồng của ông để nộp vào Ngân hàng. Ngày 02/6/2017, ông và ông T1, bà T2 đã lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737, được Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng Công chứng P) công chứng.
Ngày 14/6/2017, ông nộp hồ sơ đề nghị đăng ký biến động thửa 1737. Ngày 31/8/2017, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng Ngãi - Chi nhánh thành phố Q (viết tắt là Văn phòng đăng ký) căn cứ Thông báo số 270/TB - TA ngày 29/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Q để trả lại hồ sơ đề nghị đăng ký biến động cho ông.
Ngày 27/12/2017, ông nộp lại hồ sơ đăng ký biến động nhưng Văn phòng đăng ký căn cứ Công văn số 630/CV–CCTHA ngày 31/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q (viết tắt là Chi cục Thi hành án) để tiếp tục trả lại hồ sơ đề nghị đăng ký biến động cho ông vào ngày 26/01/2018.
Ngày 05/3/2018, Chi cục Thi hành án ban hành Quyết định số 14/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất đối với thửa 1737 để thi hành án các Bản án số 19/2017/DS-ST ngày 18/7/2017; Bản án số 27/2017/DS-ST ngày 23/8/2017; Bản án số 48/2017/DS-ST ngày 27/9/2017 và Bản án số 64/2017/DS-ST ngày 29/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Q.
Tại thời điểm ông nhận chuyển nhượng thửa 1737 của ông T1, bà T2 thì không có Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật buộc ông T1, bà T2 phải trả nợ; thửa 1737 không bị tranh chấp hay bị hạn chế bởi những quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; hình thức và nội dung của hợp đồng là hợp pháp. Mặt khác, việc Văn phòng đăng ký căn cứ Thông báo số 270/TB-TA ngày 29/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi để trả hồ sơ đề nghị đăng ký biến động của ông là không đúng vì đó không phải là Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ngoài ra, việc Chi cục Thi hành án ban hành Công văn số 630/CV–CCTHA ngày 31/8/2017 về việc phối hợp thi hành án là trái pháp luật, vì tại thời điểm này Chi cục Thi hành án chưa có Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của bà Phạm Thị Hằng Ng. Đến ngày 09/10/2017, Chi cục Thi hành án mới có Quyết định số 46/QĐ-CCTHADS thi hành án theo đơn yêu cầu của bà Phạm Thị Hằng Ng.
Nay, ông yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là bà T2, ông T1 với bên nhận chuyển nhượng là ông đối với thửa 1737, được Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng Công chứng P) công chứng ngày 02/6/2017 là hợp pháp, để ông làm thủ tục đăng ký biến động thửa 1737 cho ông. Trường hợp có căn cứ xác định hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 giữa ông với ông T1, bà T2 vô hiệu thì ông không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu trong vụ án này, mà ông sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Hồ Văn N yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng 1737 giữa ông với ông T1, bà T2 vô hiệu thì ông không đồng ý, vì tại thời điểm ông với ông T1, bà T2 lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737, thì ông N chưa khởi kiện và chưa được Tòa án thụ lý vụ án của ông N yêu cầu ông T1 trả nợ.
* Tại Bản tự khai không ghi ngày tháng năm, bị đơn là ông Nguyễn Ngọc T1 trình bày:
Thửa 1737 là của ông và bà Nguyễn Thị T2 do bà T2 đứng tên trong GCNQSDĐ. Ông và bà T2 có thế chấp thửa 1737 cho Ngân hàng để đảm bảo khoản vay của Công ty TP tại Ngân hàng. Năm 2017, Ngân hàng yêu Công ty TP trả nợ, nếu không trả nợ thì Ngân hàng sẽ bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Ngày 02/6/2017, ông và bà T2 đã chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Phạm Th để lấy tiền trả cho Ngân hàng. Việc chuyển nhượng thửa 1737 là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc, không có tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, việc chuyển nhượng không nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737, ông và bà T2 đã giao GCNQSDĐ cho ông Th. Số tiền chuyển nhượng thửa 1737 đã chuyển trả cho Ngân hàng. Ông và bà T2 không tranh chấp gì về hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 với ông Th.
* Tại Bản tự khai ngày 12/5/2020, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, bị đơn là bà Nguyễn Thị T2 trình bày:
Thửa 1737 là tài sản chung của bà và ông Nguyễn Ngọc T1, do bà đứng tên trong GCNQSDĐ. Bà và ông T1 thế chấp thửa 1737 để đảm bảo cho khoản vay của Công ty TP tại Ngân hàng do ông T1 làm Giám đốc. Do không có khả năng trả nợ, nên Ngân hàng yêu cầu bà và ông T1 trả nợ, nếu không trả nợ thì Ngân hàng sẽ bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Sau đó, Ngân hàng đã tìm người mua thửa 1737, nhưng không có người mua, nên bà và ông T1 tìm được người mua là ông Phạm Th nên bà và ông T1 chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Th để lấy tiền trả nợ cho Ngân hàng.
Ngày 02/6/2017, bà và ông T1 lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Th, được Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng Công chứng P) công chứng; mục đích chuyển nhượng là để trả nợ cho Ngân hàng. Vì Ngân hàng đồng ý để bà và ông T1 bán thửa 1737 cho ông Th nên Ngân hàng mới làm các thủ tục cần thiết để bà và ông T1 nhận GCNQSDĐ. Tại thời điểm chuyển nhượng, thửa 1737 thuộc trường hợp được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, không nằm trong khu quy hoạch phải thu hồi đất, không có quyết định thu hồi của cấp có thẩm quyền; thửa 1737 không dùng để đảm bảo cho bất kỳ một nghĩa vụ nào về tài sản của bà và ông T1. Việc giao kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hoặc ép buộc. Khi bà và ông T1 ký hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Th thì bà và ông T1 không vi phạm bất cứ nghĩa vụ gì trong hợp đồng; bà và ông T1 đã giao GCNQSDĐ (bản chính) cho ông Th; số tiền chuyển nhượng, bà và ông T1 đã trả nợ cho Ngân hàng. Bà chỉ ký vào hợp đồng chuyển nhượng, chứ bà không nhận số tiền 1.000.000.000 đồng từ ông Th. Ngoài thửa 1737, thì bà và ông T1 không còn tài sản nào khác.
* Tại Đơn yêu cầu độc lập đề ngày 08/7/2020, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hồ Văn N trình bày:
Ngày 29/7/2016, ông Nguyễn Ngọc T1 có vay của ông số tiền 195.000.000 đồng; ông T1 có viết giấy nhận nợ. Do ông T1 không trả nợ, nên ngày 26/10/2017 ông có đơn khởi kiện ông T1 tại Tòa án nhân dân thành phố Q. Theo Bản án số 64/2017/DS-ST ngày 29/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Q, thì ông T1 phải trả cho ông tổng số tiền 200.205.000 đồng. Bản án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng ông T1 vẫn không trả tiền cho ông. Ngày 02/6/2017, ông T1 và bà T2 chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Phạm Th, nhưng không trả tiền cho ông là trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, nên ông yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng ngày 02/6/2017 giữa ông T1, bà T2 với ông Th đối với thửa 1737 là vô hiệu, để đảm bảo thi hành án theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, ông không yêu cầu gì khác.
* Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Bích S trình bày:
Từ năm 2014 - 2015, bà có cho ông Nguyễn Ngọc T1 mượn tiền nhiều lần với tổng số tiền 100.000.000 đồng; ông T1 và bà Nguyễn Thị T2 còn mượn của bà số tiền là 75.000.000 đồng, nhưng ông T1, bà T2 không trả nợ. Ngày 03/6/2017, bà có đơn khởi kiện ông T1, bà T2, được Tòa án nhân dân thành phố Q thụ lý vụ án vào ngày 20/6/2017. Tại Bản án số 27/2017/DS-ST ngày 23/8/2017, Tòa án nhân dân thành phố Q đã xử buộc bà T2, ông T1 phải trả cho bà 100.000.000 đồng; buộc ông T1 phải trả cho bà 75.000.000 đồng.
Hiện thửa 1737 thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông T1, bà T2. Việc ông Phạm Th khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 giữa ông T1, bà T2 với ông Th là không đúng với quy định của pháp luật, bà không đồng ý. Thửa 1737 là tài sản để đảm bảo thi hành án cho bà vì trước khi ông T1 chuyển nhượng thửa 1737, bà đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi. Bà đã làm đơn gửi các Văn phòng Công chứng và Văn phòng đăng ký đất đai không được làm thủ tục sang tên đối với tài sản của ông T1, bà T2 cho bất kỳ ai, nhưng không gửi cho Văn phòng Công chứng S. Việc ông T1 chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Th nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Vì ông T1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Bùi Thị Mai T3, nên bà T3 đã nộp đủ tiền cho Ngân hàng. Ông T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Th chỉ để sử dụng cá nhân, không phải để trả nợ cho Ngân hàng, nhưng ông T1 và bà T2 không trả tiền cho bà. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Hằng Ng trình bày:
Từ năm 2016, bà có cho ông Nguyễn Ngọc T1 mượn 170.000.000 đồng, nhưng ông T1 không trả cho bà. Ngày 24/4/2017, bà có đơn khởi kiện yêu cầu ông T1, bà Nguyễn Thị T2 phải trả nợ cho bà. Mặc dù, chỉ một mình ông T1 viết giấy nợ ngày 27/6/2016; nhưng ngày 21/9/2016, bà T2 có viết giấy hẹn đến ngày 17/10/2016 sẽ trả cho bà 200.000 đồng/ngày. Ngày 27/4/2017, Tòa án nhân dân thành phố Q thụ lý vụ án. Tại Bản án số 19/2017/DS-ST ngày 18/7/2017, Tòa án nhân dân thành phố Q đã xử buộc ông T1, bà T2 phải trả cho bà 170.000.000 đồng. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ngày 22/8/2017, bà làm đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 05/3/2018, Chi cục thi hành án có Quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất số 14/QĐ-CCTHADS để thi hành án theo bản án. Việc ông Phạm Th với ông T1, bà T2 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền thửa 1737 là nhằm mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà. Thời điểm ông Th nhận chuyển nhượng thửa 1737 thì ông Th cũng biết thửa 1737 đang bị tranh chấp, nhưng ông Th vẫn cố tình nhận chuyển nhượng. Hiện thửa 1737 vẫn là tài sản của ông T1, bà T2 để đảm bảo thi hành án cho bà. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Thanh T4 trình bày: Từ năm 2015, bà có cho ông Nguyễn Ngọc T1 nhiều lần mượn tiền với tổng số tiền 350.000.000 đồng nhưng ông T1 không trả nợ cho bà. Ngày 15/6/2017, bà có đơn khởi kiện. Ngày 22/6/2017, Tòa án nhân dân thành phố Q thụ lý vụ án. Tại Bản án số 48/2017/DS-ST ngày 27/9/2017, Tòa án nhân dân thành phố Q đã xử buộc ông T1 phải trả cho bà 435.418.750 đồng. Bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà. Việc ông T1 chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Phạm Th là nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q do ông Nguyễn Thanh B là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông được phân công tổ chức, thi hành các Bản án số 19/2017/DS-ST ngày 18/7/2017; Bản án số 27/2017/DS-ST ngày 23/8/2017; Bản án số 48/2017/DS-ST ngày 27/9/2017; Bản án số 64/2017/DS-ST ngày 29/12/2017 đều của Tòa án nhân dân thành phố Q đối với ông Nguyễn Ngọc T1, bà Nguyễn Thị T2; cư trú tại số 54 (số 77 cũ) đường N, thuộc tổ b (nay thuộc tổ a), phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, gồm các khoản:
Đối với ông T1 có nghĩa vụ thi hành án gồm: Nộp án phí dân sự sơ thẩm 35.177.000 đồng; trả cho bà Trần Thị Bích S 75.000.000 đồng; trả cho bà Phạm Thị Thanh T4 435.418.750 đồng; trả cho ông Hồ Văn N 200.205.000 đồng; tổng cộng, ông T1 phải thi hành án là 745.800.750 đồng. Ông T1, bà T2 có chung nghĩa vụ thi hành án gồm: Nộp án phí dân sự sơ thẩm 13.500.000 đồng; trả cho bà Phạm Thị Hằng Ng 170.000.000 đồng; trả cho bà S 100.000.000 đồng; tổng cộng là 283.500.000 đồng. Như vậy, tổng các khoản phải thi hành án của ông T1, bà T2 là 1.029.300.750 đồng.
Quá trình tổ chức thi hành án, ông T1 và bà T2 không tự nguyện thi hành và nại lý do hiện ông, bà làm ăn thua lỗ, không có tài sản. Ngày 19/11/2017, Chấp hành viên xác minh và qua cung cấp thông tin của Văn phòng đăng ký, được biết ông T1, bà T2 có tài sản gồm: Thửa đất số 167, tờ bản đồ số 8, phường T (viết tắt là thửa 167) và thửa 1737. Hộ ông T1, bà T2 đã thế chấp tại Ngân hàng để bảo lãnh cho Công ty TP do ông T1 làm Giám đốc để vay tiền.
Ngày 02/6/2017, ông T1, bà T2 và Công ty TP đã trả nợ xong cho Ngân hàng, nên thửa 167 và thửa 1737 đã được xóa đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký. Cùng ngày 02/6/2017, hộ ông T1, bà T2 lập Hợp đồng mua bán nhà ở cho bà Bùi Thị Mai T3 đối với nhà, đất tại thửa 167 và lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Phạm Th, được Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng Công chứng P) công chứng, nhưng đến ngày 02/11/2017, cả hai Hợp đồng nói trên chưa thực hiện việc đăng ký vào sổ địa chính tại Văn phòng đăng ký theo quy định của pháp luật.
Để tổ chức thi hành án theo đúng quy định của pháp luật, căn cứ khoản 2 Điều 9, khoản 3 Điều 71, Điều 110, 111, 112 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, Chấp hành viên ban hành Quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất số 14/QĐ-CCTHADS ngày 05/3/2018 đối với thửa 1737 để đảm bảo thi hành án vì tại thời điểm kê biên, thửa 1737 vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng đất của người phải thi hành án là bà T2, ông T1.
Chi cục thi hành án không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì tài sản này đã bị Chấp hành viên kê biên để đảm bảo thi hành án đúng theo quy định của pháp luật và đúng thẩm quyền.
* Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng Công chứng P(Văn phòng Công chứng S cũ), do người đại diện theo pháp luật trình bày:
Tại thời điểm công chứng Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Ngọc T1, bà Nguyễn Thị T2 với bên nhận chuyển nhượng là ông Phạm Th thì các bên hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; mục đích, nội dung của Hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Văn phòng Công chứng không nhận được bất cứ văn bản nào của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc ngăn chặn ông T1, bà T2 thực hiện chuyển nhượng thửa 1737. Như vậy, việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên của Văn phòng Công chứng là đúng với quy định của Bộ luật dân sự, Luật đất đai hiện hành và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Công chứng hiện hành.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị Mai T3 trình bày: Bà T3 với ông Phạm Th, ông Nguyễn Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị T2 không có quan hệ gì. Ông Th cung cấp cho Tòa án một giấy nhận tiền đề ngày 01/06/2017 thể hiện người nhận là bà. Qua kiểm tra, đây đúng là chữ kỹ và chữ viết của bà, nhưng nội dung như thế nào thì bà không nhớ rõ.
* Bản án số 56/2022/DS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Th về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 1737, số công chứng 455, quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/6/2017 giữa ông T1, bà T2 với ông Th là hợp pháp.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hồ Văn N về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1, bà T2 với ông Th đối với thửa 1737, được Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng Công chứng P) công chứng ngày 02/6/2017 là vô hiệu.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 05/10/2022, ông Phạm Th có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 455, quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/6/2017 giữa ông với ông T1, bà T2 là hợp pháp.
* Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm Th phát biểu ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng cáo của ông Th, sửa bản án sơ thẩm, công nhận Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 giữa ông Th với ông T1, bà T2 được Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng Công chứng P) công chứng ngày 02/6/2017 có hiệu lực pháp luật.
* Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hồ Văn N, bà Phạm Thị Thanh T4, bà Trần Thị Bích S và bà Phạm Thị Hằng Ng phát biểu ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì ông Th, ông N, bà T4, Luật sư S, bà Ng, bà Sơ, Luật sư N, Luật sư Nh, bà T2, bà T3, đại diện Chi cục Thi hành án + Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng Công chứng P) đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73, 76 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần những vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Th làm trong hạn luật định là hợp lệ theo quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, được chấp nhận.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 56/2022/DS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Ngày 21/9/2022, Tòa án nhân dân thành phố Q tuyên án vụ án nêu trên. Ngày 05/10/2022, ông Phạm Th có đơn kháng cáo là còn trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, được chấp nhận.
[1.2] Bị đơn là ông Nguyễn Ngọc T1 đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Phạm Th, thì thấy rằng:
Ngày 21/10/2014, Công ty TNHH TP (viết tắt là Công ty TP) do ông T1 làm Giám đốc ký Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức với Ngân hàng A (viết tắt là Ngân hàng) với tổng mức cấp tín dụng được cấp là 3.250.000.000 đồng. Tài sản thế chấp là nhà, đất thuộc thửa đất số 167, tờ bản đồ số 8, phường T (viết tắt là thửa 167) và thửa đất số 1737, diện tích 272,2m2, tờ bản đồ số 21, phường L (viết tắt là thửa 1737). Theo Thông báo ngày 09/3/2017 của Ngân hàng thì tính đến ngày 07/3/2017, Công ty TP còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 3.313.000.000 đồng, trong đó nợ gốc là 3.228.000.000 đồng, nợ lãi là 85.000.000 đồng.
Ông Th cho rằng, do Công ty TP không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng, nên bà T2 và ông T1 thống nhất chuyển nhượng nhà, đất thuộc thửa 167 cho bà Bùi Thị Mai T3; chuyển nhượng thửa 1737 cho ông để lấy tiền trả nợ cho Ngân hàng. Ông đã giao đủ 1.000.000.000 đồng cho bà T2 và bà T2 đã đưa số tiền 1.000.000.000 đồng cho bà T3 đứng ra trả nợ cho Ngân hàng, nên ngày 01/6/2017, bà T3 viết giấy nhận tiền (bút lục 631) với nội dung: Bà T3 có nhận của bà T2 1.000.000.000 đồng tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Th. Sau khi tất toán khoản vay của Công ty TP, nhận lại GCNQSDĐ thửa 167 và thửa 1737 thì ngày 02/6/2017, ông T1 và bà T2 lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 cho ông với giá 200.000.000 đồng (giá chuyển nhượng thực tế là 1.000.000.000 đồng), được Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng Công chứng P) công chứng; cùng ngày, hộ ông T1 (gồm ông T1, bà T2, anh Nguyễn Ngọc T5 và anh Nguyễn Ngọc T6) cũng lập Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa 167 cho bà T3 với giá theo Hợp đồng thể hiện là 600.000.000 đồng, còn giá chuyển nhượng thực tế thì ông không biết, được Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng Công chứng P) công chứng. Ngày 14/6/2017, ông nộp hồ sơ đề nghị đăng ký biến động thửa 1737. Ngày 31/8/2017, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng Ngãi - Chi nhánh thành phố Q (viết tắt là Văn phòng đăng ký) căn cứ Thông báo số 270/TB - TA ngày 29/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Q để trả lại hồ sơ đề nghị đăng ký biến động cho ông. Ngày 27/12/2017, ông nộp lại hồ sơ đăng ký biến động nhưng Văn phòng đăng ký căn cứ Công văn 630/CV–CCTHA ngày 31/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q (viết tắt là Chi cục Thi hành án) để tiếp tục trả lại hồ sơ đề nghị đăng ký biến động cho ông vào ngày 26/01/2018, nên ông yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 giữa ông với ông T1, bà T2 là hợp pháp, để ông làm thủ tục đăng ký biến động thửa 1737 cho ông.
Xét yêu cầu của ông Th, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện:
Ngày 27/6/2016, ông T1 viết giấy mượn tiền 170.000.000 đồng của bà Phạm Thị Hằng Ng. Ngày 24/4/2017, bà Ng có đơn khởi kiện yêu cầu ông T1, bà T2 phải trả cho bà số tiền trên. Tại Bản án số 19/2017/DS-ST ngày 18/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ng. Sau khi xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo; Viện kiểm sát các cấp không kháng nghị. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
Từ ngày 05/12/2014 đến ngày 18/3/2015, ông T1 nhiều lần viết giấy vay tiền của bà Trần Thị Bích S với tổng số tiền 75.000.000 đồng; ngày 20/8/2015, ông T1 và bà T2 viết giấy vay 100.000.000 đồng của bà S; tổng cộng là 175.000.000 đồng. Ngày 03/6/2017, bà S có đơn khởi kiện yêu cầu ông T1, bà T2 phải trả cho bà số tiền trên, cụ thể: Ông T1, bà T2 cùng có trách nhiệm trả cho bà 100.000.000 đồng; ông T1 có trách nhiệm trả cho bà 75.000.000 đồng. Tại Bản án số 27/2017/DS-ST ngày 23/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà S. Sau khi xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo; Viện kiểm sát các cấp không kháng nghị. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
Từ ngày 05/3 đến ngày 02/11/2015, ông T1 nhiều lần viết giấy vay tiền của bà Phạm Thị Thanh T4 với tổng số tiền 350.000.000 đồng. Bà T4 có đơn khởi kiện yêu cầu ông T1, bà T2 phải trả cho bà 350.000.000 đồng tiền nợ gốc và 82.374.000 đồng tiền nợ lãi (tạm tính). Tại Bản án số 48/2017/DS-ST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã xử buộc ông T1 phải có trách nhiệm trả cho bà T4 tổng số tiền 435.418.750 đồng. Sau khi xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo; Viện kiểm sát các cấp không kháng nghị. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
Ngày 29/7/2016, ông T1 viết giấy vay 195.000.000 đồng của ông Hồ Văn N. Ngày 30/9/2016, ông T1 trả cho ông N 15.000.000 đồng tiền nợ gốc. Ngày 26/10/2017, ông N có đơn khởi kiện yêu cầu ông T1 phải trả cho ông 180.000.000 đồng tiền nợ gốc và 17.928.000 đồng tiền nợ lãi (tạm tính). Tại Bản án số 64/2017/DS-ST ngày 29/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã xử buộc ông T1 phải có trách nhiệm trả cho ông N tổng số tiền 200.205.000 đồng. Sau khi xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo; Viện kiểm sát các cấp không kháng nghị. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, tại thời điểm ông T1, bà T2 chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Th vào ngày 02/6/2017, thì bà Phạm Thị Hằng Ng đã có đơn khởi kiện đề ngày 24/4/2017 đối với ông T1, bà T2 gửi Tòa án nhân dân thành phố Q yêu cầu ông T1, bà T2 trả số tiền 170.000.000 đồng; sau thời điểm ông T1, bà T2 chuyển nhượng thửa 1737, thì vào các ngày 03/6 và ngày 26/10/2017, các ông, bà T4, N, S cũng có đơn khởi kiện yêu cầu ông T1, bà T2 trả tiền. Mặc dù, tại thời điểm ông T1, bà T2 chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Th thì chưa có bản án có hiệu lực pháp luật về việc yêu cầu ông T1, bà T2 phải trả tiền cho các ông, bà Ng, S, T4, N và không bị các cơ quan có thẩm quyền hay cá nhân có yêu cầu ngăn chặn hay cấm chuyển dịch thửa 1737. Tuy nhiên, theo các tài liệu có tại hồ sơ thể hiện thì vào các năm 2014, 2015 và 2016, ông T1 nhiều lần viết giấy vay tiền của các ông, bà Ng, S, T4, N; ngày 20/8/2015, ông T1 và bà T2 còn viết giấy vay của bà S số tiền 100.000.000 đồng. Điều đó, chứng tỏ tại thời điểm ông T1, bà T2 chuyển nhượng thửa 1737, ông T1 và bà T2 đã biết mình đang có nghĩa vụ trả nợ cho các ông, bà Ng, S, T4, N nhưng khi chuyển nhượng thửa 1737 thì ông T1, bà T2 không sử dụng số tiền chuyển nhượng thửa 1737 để trả nợ cho các ông, bà Ng, S, T4, N là trốn tránh nghĩa vụ.
Xét việc ông Th cho rằng ông T1, bà T2 chuyển nhượng thửa 1737 để lấy tiền trả nợ cho Ngân hàng thì thấy rằng: Mặc dù, ông T1 và bà T2 thừa nhận có chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Th để lấy tiền trả nợ cho Ngân hàng (bút lục 68, 69, 110); ông Th còn cung cấp Giấy nhận tiền đề ngày 01/6/2017 (bút lục 631) có nội dung bà T3 có nhận của bà T2 1.000.000.000 đồng tiền chuyển nhượng đất cho ông Th để trả tiền vay Ngân hàng nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, ông Th thừa nhận không có tài liệu, chứng cứ chứng minh ông là người nộp tiền vào Ngân hàng để tất toán một phần khoản vay của Công ty TP để giải chấp một phần tài sản thế chấp là thửa 1737. Mặt khác, theo Bản án số 44/2019/DS-PT ngày 04/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (bút lục 823 - 829), về việc: “Tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở” giữa nguyên đơn là các ông, bà Ng, S, T4, N với bị đơn là ông T1, bà T2, anh Nguyễn Ngọc T5, anh Nguyễn Ngọc T6 liên quan đến việc chuyển nhượng nhà, đất thuộc thửa 167 giữa hộ gia đình bà T2, ông T1 với bà Bùi Thị Mai T3, đã xác định: Hộ bà T2 chuyển nhượng nhà, đất thuộc thửa 167 cho bà T3 với giá chuyển nhượng thực tế là 3.600.000.000 đồng; bà T3 đã trả cho Ngân hàng số tiền 3.322.777.667 đồng, số tiền còn lại đã thanh toán cho ông T1, bà T2 là phù hợp với các Chứng từ giao dịch ngày 01/6/2017 (bút lục 111, 116, 121, 126, 131) thể hiện bà T3 là người nộp tiền tại Ngân hàng. Bản án phúc thẩm nói trên hiện đang có hiệu lực pháp luật, chưa bị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Như vậy, số tiền hộ gia đình bà T2, ông T1 chuyển nhượng nhà, đất thuộc thửa 167 đã dư thanh toán nợ cho Ngân hàng. Theo xác minh về việc điều kiện thi hành án của Chấp hành viên Chi cục Thi hành án ngày 19/12/2017 (bút lục 615 – 618), thì ngoài thửa 167 và thửa 1737, ông T1 và bà T2 không còn tài sản nào khác tại phường T và phường L; phù hợp với lời khai của bà T2 tại Biên bản làm việc ngày 26/5/2021 (bút lục 627).
Như vậy, việc ông T1 và bà T2 lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Th, nhưng không sử dụng số tiền chuyển nhượng để thanh toán nợ cho các ông, bà Ng, S, T4, N là giả tạo, nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ 3, nên bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015. Mặt khác, Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 chưa được đăng ký vào Sổ địa chính tại cơ quan có thẩm quyền, nên chưa có hiệu lực theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013; Điều 503 Bộ luật dân sự năm 2015.
Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định việc ông T1, bà T2 chuyển nhượng thửa 1737 cho ông Th nhằm mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho người khác, nên Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội theo Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015 là áp dụng điều luật chưa chính xác, cần rút kinh nghiệm.
Từ những nhận định trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Th; chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nam, tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 giữa ông T1, bà T2 với ông Th vô hiệu là đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Th, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, ông Th cho rằng bà T3 không ký Biên bản làm việc ngày 01/6/2023 nên không có giá trị pháp lý; lời khai của bà T2 tại Biên bản làm việc ngày 16/6/2023 là không đúng sự thật, nhằm trốn tránh nghĩa vụ dân sự, không phù hợp với các lời khai mà bà T2 và ông T1 đã xác lập tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/6/2017 không có công chứng, chứng thực (bút lục 110); Giấy nhận tiền ngày 01/6/2017 (bút lục 631) ... Tuy nhiên, như nhận định trên thì Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1737 vô hiệu là do ông T1, bà T2 không sử dụng số tiền chuyển nhượng thửa 1737 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các ông, bà Ng, S, T4, N là giả mạo, nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ 3 theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông Th không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Trường hợp ông Th có yêu cầu thì có quyền làm đơn khởi kiện bằng một vụ án khác.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo, nên ông Th phải chịu án phí. Tuy nhiên, ông Th là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí. Căn cứ Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí cho ông Th.
Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Th không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.
Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các ông, bà Nam, Thủy, Nga, Sơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, Điều 157, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116, 117, 124, 131, 503 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Th; giữ nguyên bản án số 56/2022/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Phạm Th; chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hồ Văn Nam: Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Ngọc T1, bà Nguyễn Thị T2 với bên nhận chuyển nhượng là ông Phạm Th đối với thửa đất số 1737, tờ bản đồ số 21, phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi được Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng Công chứng P) công chứng ngày 02/6/2017 vô hiệu.
2. Về án phí: Ông Phạm Th được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả cho ông Hồ Văn N 300.000 đồng (ba trăm ngàn) tiền tạm ứng ánh phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai số AA/2018/0005075 ngày 08/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q.
3. Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), ông Phạm Th phải chịu. Ông Phạm Th đã nộp và chi phí xong.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Q; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Chi cục THADS thành phố Q; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thu Lan |