- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh G - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Tuyên bố; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2022/HSST Ngày 09/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nông Thanh Điệp
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lương Văn Phúc và bà Nông Thị Nhật Hằng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: bà Hoàng Thúy Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa: ông Hoàng Văn Biên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2022/HSST ngày 26/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2022/HSST-QĐTA ngày 29/7/2022 đối với bị cáo:
HOÀNG MINH G - sinh ngày 17/5/1981;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm N, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Tạm trú: Tổ dân phố 7, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Số Thẻ CCCD: 004081000748, cấp ngày 10 tháng 4 năm 2021, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH Bộ Công an; Con ông: Hoàng Nghiệp Đ (đã chết); Con bà: Lương Thị H - sinh năm 1947; Vợ, con: chưa có; Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 06 anh chị em.
Tiền án: không;
Tiền sự: Ngày 01/3/2021 bị công an thị trấn Hòa Thuận xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền 1,5 triệu đồng, đã nộp phạt ngày 08/3/2021 .
Nhân thân: Năm 2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 25/01/2008 về tội “Cố ý thương tích”.
Bị cáo đang bị tạm giam kể từ ngày 16/5/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ủy ban nhân dân thị trấn H
Địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện theo pháp luật: ông D, chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn H. Ủy quyền cho ông L, chức vụ Phó Chủ tịch - tham gia tố tụng. Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/3/2022, Công an thị trấn Hòa Thuận, huyện Quảng Hòa phát hiện Hoàng Minh G đang có hành vi trộm cắp tài sản (các thanh sắt) tại trụ sở UBND thị trấn Hòa Thuận (cũ) thuộc tổ dân phố 4, thị trấn Hòa Thuận, huyện Quảng Hòa. Công an thị trấn Hòa Thuận đã tiến hành thu giữ 01 xe đạp khung xe có chữ Rasuwa, màu xám, xe cũ đã qua sử dụng; 01 thanh gỗ dạng lan can cầu thang có chiều dài 1,7m, chiều rộng 06cm; 02 bao tải (trong đó 01 bao tải chứa nhiều thanh sắt có kích thước khác nhau và 01 bao tải chứa dây thép gắn với sợi dây vải); 02 thanh kim loại dạng vuông, kích thước dài 116cm, mỗi mặt rộng 1,5cm (trong đó 01 thanh có gắn 02 thanh kim loại dạng vuông dài khoảng 58cm, mỗi mặt rộng 1,5cm) và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra Hoàng Minh G khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 04/3/2022, sau khi tiêm vaccine phòng chống Covid tại trạm y tế thị trấn Hòa Thuận thì G đi xe đạp (khung có chữ Rasuwa) về nhà tại tổ dân phố 7, thị trấn Hòa Thuận. Khi đến đầu đường đôi khu vực quảng trường, G để xe đạp ở cổng phụ, rồi đi vào trụ sở UBND thị trấn Hòa Thuận cũ (tòa nhà 03 tầng). Khi đi đến cuối hành lang của tầng 01 ở góc bên phải hướng từ cổng phụ đi vào G thấy bên trong có nhiều thanh sắt có kích thước dài, ngăn khác nhau và một số phần khung sắt cửa số đã được tháo dỡ nằm ngổn ngang trên sàn nhà. Thấy các thanh sắt cắt ngắn (dài 58cm và 13cm) dễ lấy nên G nảy sinh ý định trộm cắp đem mua rượu, còn các thanh sắt dài nặng, cồng kềnh, sợ người khác phát hiện nên G không lấy. G đi vào trong phòng thấy 04 thanh sắt ngắn, kích thước (58 cm x 1,5 cm) đang gắn với thanh sắt dài khoảng 1,1m của khung cửa sổ không còn nguyên vẹn, nên G đã dùng hai tay cầm khung sắt chọc chéo nhiều lần xuống nền gạch hoa làm 04 thanh sắt ngắn rời ra khỏi thanh sắt dài rồi để sang một bên. Sau khi lấy được 04 thanh sắt ngắn, G sang phòng bên cạnh dật lấy 01 sợi dây thép dài một đầu dây thép được móc cố định trên tường, một đầu nằm ở dưới sàn nối 01 đoạn dây vải để buộc 04 thanh sắt vừa lấy được cùng với các thanh sắt ngắn khác nằm rải rác trên sàn nhà trong phòng cuối tầng một, nhưng chưa kịp thu gom lại số sắt trên thì bị Công an thị trấn Hòa Thuận phát hiện, bắt quả tang và đưa về trụ sở để làm việc.
Ngày 19/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Quảng Hòa có quyết định trưng cầu định giá tài sản đối với 04 thanh sắt ngắn có kích thước 58 cm x 1,5 cm mà G đã tháo rời ra khỏi khung sắt không còn nguyên vẹn.
Kết luận định giá tài sản số 10 ngày 25/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Quảng Hòa, xác định: “04 thanh sắt ngắn kích thước 58 cm x 1,5 cm có trọng lượng 3,7 kg, trị giá 185.000 đồng”.
Mặc dù giá trị tài sản trộm cắp dưới hai triệu đồng nhưng Hoàng Minh G có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, Hành vi của Hoàng Minh G đã đủ yếu tố cầu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội bị cáo đúng như Cáo trạng số 36/CT-VKSQH ngày 26/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự để tuyên bố bị cáo Hoàng Minh G phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 09 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập. Xem xét xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Khoảng 17 giờ ngày 04/3/2022 Hoàng Minh G đã đột nhập vào trụ sở cũ của Ủy ban nhân dân thị trấn Hòa Thuận, huyện Quảng Hòa để lấy trộm 04 thanh sắt kích thước 58 cm x 1,5 cm, có trọng lượng 3,7 kg, trị giá 185.000 đồng.
Mặc dù giá trị tài sản trộm cắp dưới hai triệu đồng nhưng Hoàng Minh G có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó hành vi của bị cáo Hoàng Minh G đã cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo Hoàng Minh G về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Mặc dù tài sản có giá trị không lớn, nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về tội trộm cắp (chưa được xóa tiền sự) mà còn vi phạm, ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu, bản thân nghiện ma túy, đã từng bị kết án (đã được xóa án tích) nhưng bị cáo không coi đó là bài học để phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội mà còn vi phạm, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ngoài ra bố bị cáo (ông Hoàng Nghiệp Đ) được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất (sổ vàng số 858/QĐ theo Nghị quyết số 554/KT/HĐNN ngày 27/10/1984, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy khi quyết định hình phạt, Tòa án sẽ cân nhắc.
Phần tranh luận: Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội là đúng, tuy nhiên số sắt bị cáo lấy trộm là ít, giá trị 185.000,đ, mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là cao, vì vậy đề nghị Kiểm sát viên xem xét.
Kiểm sát viên đối đáp: 04 thanh sắt mà bị cáo dùng tay để gỡ và gom lại đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp vì bị cáo đã có tiền sự chưa được xóa, ngoài ra do bị ngăn chặn kịp thời, nếu không bị cáo sẽ tiếp tục lấy những thanh sắt ngắn trong phòng, thì lúc đó giá trị tài sản trộm cắp sẽ lớn hơn. Vì vậy mức án mà Kiểm sát viên đề xuất từ 09 đến 15 tháng là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề xuất áp dụng các điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xem xét xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt từ 09 đến 15 tháng tù đối với bị cáo là có phần quá nghiêm khắc so với tính chất, mức độ và giá trị tài sản mà bị cáo đã trộm cắp.
Phần nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội sửa lỗi lầm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, cho nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe đạp khung xe có chữ Rasuwa, màu xám, xe đã qua sử dụng, không được bị cáo dùng vào thực hiện trộm cắp tài sản, do đó sẽ trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự
Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh G 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 16/5/2022 .
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Trả lại cho bị cáo: 01 xe đạp khung xe có chữ Rasuwa, màu xám, xe đã qua sử dụng.
Xác nhận số vật chứng của vụ án hiện đang được tạm giữ tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hoàng Minh G phải chịu 200.000,đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của bộ luật tố tụng hình sự:
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị hại, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng; - VKSND huyện Quảng Hòa; - Công an huyện Quảng Hòa; - Chi Cục THADS huyện Quảng Hòa; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nông Thanh Điệp |