- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Trần Kim T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2022/HS-ST Ngày: 26 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Trí Dũng và bà Nguyễn Thị Quyên.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Trần Kim T, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện M1, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Kim T1 (đã chết) và bà Trần Thị M; vợ là Phạm Thị Th (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 07/01/2022, bị Công an xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/5/2022 đến ngày 13/5/2022 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH xây dựng Ph; địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam - Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn L, chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền cho ông Trần Văn L: Anh Trần Sỹ H, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn 4, xã T, huyện L, tỉnh H -Là cán bộ kỹ thuật Công ty TNHH xây dựng Ph; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Ngô Thị Hải Y, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện M1, tỉnh N; vắng mặt.
2. Chị Trần Thị Th, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn 6, xã H, huyện L, tỉnh H; vắng mặt.
3. Anh Trần Công Th, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn 6, xã H, huyện L, tỉnh H (chồng chị Th); vắng mặt.
4. Anh Trần Kim T, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện M1, tỉnh N; có mặt.
5. Anh Trần Khắc Th, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn 4, xã H, huyện L, tỉnh H; vắng mặt.
6. Anh Trần Duy L, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn 2, xã H, huyện L, tỉnh H; vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Trần Thị Th và ông Trần Quý S; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/4/2022, Trần Kim T đi đến xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam với mục đích tìm nhà nào sơ hở để vào trộm cắp tài sản. Khi đến Nhà văn hoá xóm 6 (nay là thôn 2) xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam T quan sát thấy trong hiên Nhà văn hoá có để nhiều tấm phên sắt (mỗi phên được đan thủ công bằng các thanh sắt phi 12, loại sắt Việt Nhật, kích thước trung bình khoảng (1,3 x 0,9)m, trọng lượng trung bình khoảng 14kg) của Công ty TNHH xây dựng Ph không có người trông coi, nên nảy sinh ý định trộm cắp các phên sắt này nhưng do T đi xe mô tô không chở được nhiều và sợ bị phát hiện nên đã thực hiện hành vi trộm cắp các phên sắt vào nhiều lần khác nhau, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 26/4/2022, Trần Kim T điều khiển xe môtô BKS 18S8 - 6895 đi từ nhà đến Nhà văn hoá thôn 2, xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân thì dừng lại, dựng xe ngoài đường rồi đi bộ vào hiên Nhà văn hoá trộm cắp 02 tấm phên sắt, trọng lượng khoảng 28kg mang ra để lên yên xe. Sau đó T điều khiển xe mô tô chở đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Ngô Thị Hải Y, sinh năm 1970 ở thôn Đ, xã M, huyện M1, tỉnh N bán với giá 10.000đ/kg, được khoảng 280.000 đồng.
- Lần thứ hai: Khoảng 21 giờ ngày 26/4/2022, cũng với thủ đoạn tương tự, Trần Kim T trộm cắp 02 tấm phên sắt, trọng lượng khoảng 28kg để trên hiên Nhà văn hóa thôn 2, xã Hòa Hậu sau đó chở đến bán cho chị Ngô Thị Hải Y được khoảng 300.000 đồng.
- Lần thứ ba: Khoảng 04 giờ ngày 27/4/2022, Trần Kim T trộm cắp 02 tấm phên sắt, trọng lượng khoảng 28kg để trên hiên Nhà văn hóa thôn 2, xã Hòa Hậu, sau đó chở đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Trần Thị Th, sinh năm 1984 ở thôn 6, xã H, huyện L bán với giá 11.000đ/kg sắt, được khoảng 300.000 đồng.
- Lần thứ tư: Khoảng 21 giờ ngày 27/4/2022, Trần Kim T trộm cắp 02 tấm phên sắt trọng lượng khoảng 28kg để trên hiên Nhà văn hóa thôn 2, xã Hòa Hậu sau đó chở đến bán cho chị Ngô Thị Hải Y được khoảng 280.000đ.
- Lần thứ năm: Khoảng 04 giờ ngày 28/4/2022, Trần Kim T trộm cắp 02 tấm phên sắt trọng lượng khoảng 28kg để trên hiên Nhà văn hóa thôn 2, xã Hòa Hậu rồi chở đến bán cho chị Trần Thị Th được khoảng 300.000 đồng.
- Lần thứ sáu: Khoảng 21 giờ ngày 28/4/2022, Trần Kim T trộm cắp 02 tấm phên sắt trọng lượng khoảng 28kg để trên hiên Nhà văn hóa thôn 2, xã Hòa Hậu rồi chở đến bán cho chị Ngô Thị Hải Y được khoảng 280.000 đồng.
- Lần thứ bảy: Khoảng 04 giờ ngày 29/4/2022, Trần Kim T trộm cắp 02 tấm phên sắt, trọng lượng khoảng 28kg để trên hiên Nhà văn hóa thôn 2, xã Hòa Hậu rồi chở đến bán cho chị Trần Thị Th được khoảng 300.000 đồng.
- Lần thứ tám: Khoảng 21 giờ ngày 29/4/2022, Trần Kim T trộm cắp 02 tấm phên sắt trọng lượng khoảng 28kg để trên hiên Nhà văn hóa thôn 2, xã Hòa Hậu chở đến bán cho chị Ngô Thị Hải Y được khoảng 280.000 đồng.
- Lần thứ chín: Khoảng 04 giờ ngày 06/5/2022, Trần Kim T trộm cắp 03 tấm phên sắt trọng lượng khoảng 42kg để trên hiên Nhà văn hóa thôn 2, xã Hòa Hậu chở đến bán cho chị Ngô Thị Hải Y được khoảng 420.000 đồng.
- Lần thứ mười: Khoảng 21 giờ ngày 06/5/2022, Trần Kim T điều khiển xe môtô BKS: 18S8 - 6895 đi từ nhà đến Nhà văn hoá thôn 2, xã Hoà Hậu thì dựng xe ngoài đường, đi bộ vào trộm cắp 03 tấm phên sắt trên hiên Nhà văn hoá, mang ra để lên yên xe, rồi điều khiển xe đi ra đường Quốc lộ 38B mục đích chở đi bán, khi vừa đi được khoảng 200m thì bị quần chúng nhân dân phát hiện, giữ T lại rồi trình báo lực lượng Công an xã Hòa Hậu để xử lý. Thu giữ của Trần Kim T: 01 xe mô tô BKS: 18S8 - 6895; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung; 03 tấm phên sắt KT(1,3 x 0,9)m, tổng trọng lượng 42kg.
Kết quả điều tra: Chị Ngô Thị Hải Y và chị Trần Thị Th xác định Trần Kim T là người chở đến bán cho chị Y 13 phên sắt và bán cho chị Th 06 phên sắt. Chị Y cung cấp từ thời điểm T đến bán các phên sắt cho đến khi lực lượng Công an đến xác minh, ngoài số phên sắt đã mua của T thì chị không mua thêm của ai khác có chủng loại sắt tương tự. Đối với 13 phên sắt đã mua được chị Y đã tháo rời ra, để riêng một chỗ và tự nguyện giao nộp: 32 thanh sắt phi 12 - Việt Nhật mỗi thanh dài 1m67; 28 thanh sắt phi 12 Việt Nhật mỗi thanh dài 1m30; 92 thanh sắt phi 12 Việt Nhật mỗi thanh dài 89cm; 21 thanh sắt phi 12 Việt Nhật mỗi thanh dài 89cm, tổng trọng lượng là 160kg; số phên sắt chị Trần Thị Th đã mua vẫn để nguyên và anh Trần Công Th, sinh năm: 1983, trú tại: Thôn 6, xã H (là chồng chị Th) tự nguyện giao nộp: 06 tấm phên sắt KT(1,3 x 0,9)m, tổng trọng lượng là 85,9kg. Ngoài ra còn thu giữ 01 căn cước công dân mang tên Trần Kim T; 01 đăng ký mô tô mang tên Trần Kim Tq do anh Trần Kim Tq, sinh năm 1984, trú tại thôn L, xã M, huyện M1, tỉnh N (là em trai T) giao nộp.
Ngày 07/5/2022 lực lượng Công an đã lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tiến hành khám xét khẩn cấp nhà Trần Kim T nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì có liên quan đến vụ án.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-ĐGTS ngày 12/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lý Nhân, kết luận:
“- Giá trị của 06 tấm phên sắt được ghép lại với nhau bằng các thanh sắt phi 12 Việt Nhật thành hình chữ nhật kích thước (1,3 x 0,9)m, mỗi phên có trọng lượng trung bình 14,3kg, tổng trọng lượng là 85,9kg là 1.800.000 đồng.
- Giá trị của 32 thanh sắt phi 12 Việt Nhật mỗi thanh dài 1m67; 28 thanh sắt phi 12 Việt Nhật mỗi thanh dài 1m30; 92 thanh sắt phi 12 Việt Nhật mỗi thanh dài 89cm; 21 thanh sắt phi 12 Việt Nhật mỗi thanh dài 89cm. Tổng trọng lượng các thanh sắt là 160kg là 3.340.800 đồng.
- Giá trị 03 tấm phên sắt được ghép lại với nhau bằng các thanh sắt phi 12 Việt Nhật thành hình chữ nhật kích thước (1,3 x 0,9)m, mỗi phên sắt có trọng lượng trung bình 14kg. Tổng trọng lượng 03 phên sắt là 42kg là 879.000 đồng.
- Giá trị của 01kg sắt loại phi 12 Việt Nhật là 20.880 đồng”
Ngoài các lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty TNHH xây dựng Ph trên, Trần Kim T còn thực hiện hành vi trộm cắp 02 tấm cốt pha tại nhà anh Trần Khắc Th, sinh năm 1984 ở thôn 4, xã H, huyện L, cụ thể:
- Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/5/2022, Trần Kim T điều khiển xe mô tô BKS: 18S8 - 6895 đi từ nhà đến xã Hòa Hậu mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà anh Trần Khắc Th, nhìn thấy trước cửa nhà anh Th đang xây có 02 tấm cốt pha, mỗi tấm KT(0,6 x 2)m, không có người trông coi nên T dựng xe ở ngoài đường rồi vào trộm cắp 01 tấm cốt pha mang ra để lên yên xe máy, sau đó chở đến bán cho chị Trần Thị Th với giá 11.000đ/kg sắt được 320.000đ.
- Khoảng 13 giờ ngày 04/5/2022, cũng với thủ đoạn tương tự, T tiếp tục trộm cắp 01 tấm cốt pha KT(0,6 x 2)m còn lại của anh Th rồi mang đến bán cho chị Ngô Thị Hải Y với giá 10.000đ/kg sắt được 320.000đ. Tấm cốt pha này chị Y đã bán cho một người không quen biết nên không thu giữ được.
Trong quá trình điều tra, bà Trần Thị Th, sinh năm 1971, trú tại: Thôn 2, xã H, huyện L trình báo vào các ngày 27/4/2022 và ngày 29/4/2022, gia đình bà Th cũng bị kẻ gian trộm cắp 02 tấm cốt pha bằng tôn có KT(0,45 x 2)m để trước cửa nhà.
Đối với 02 tấm cốt pha KT(0,6 x 2m) của anh Trần Khắc Th và 02 tấm cốt pha KT(0,45 x 2m) của bà Trần Thị Th bị trộm cắp nêu trên đều thuộc sở hữu của anh Trần Duy L, sinh năm 1984, trú tại: Thôn 2, xã H. Anh Trần Duy L cung cấp: Anh Th, bà Th thuê các tấm cốt pha trên của anh, khi bị mất các tấm cốt pha cũng đã thông báo cho anh L biết. Ngày 29/4/2022, khi phát hiện 01 đối tượng nam giới đi xe Wave BKS: 90H6 - 8958 đang chở 01 tấm cốt pha KT(0,45 x 2)m của mình cho bà Th thuê đi vào cửa hàng thu mua phế liệu của chị Trần Thị Th nên anh giữ lại thì người này điều khiển xe bỏ chạy. Anh Trần Duy L đã mang tấm cốt pha này về dùng để thi công ghép cốt pha công trình (hiện không xác định được là tấm nào để giao nộp). Ngày 03/5/2022, anh Trần Duy L đến nhà chị Trần Thị Th thì biết chị Th mua được 02 tấm cốt pha, 01 tấm KT(0,6 x 2)m và 01 tấm KT(0,45 x 2)m đã cho nhà anh Th, bà Th thuê bị mất nên anh bỏ tiền chuộc lại với giá 840.000 đồng. Anh xác định đối tượng nam giới đi xe Wave BKS: 90H6 - 8958 và Trần Kim T là hai người khác nhau. Anh Trần Duy L tự nguyện giao nộp: 01 tấm cốt pha KT(0,6 x 2)m có trọng lượng 39kg; 01 tấm cốt pha KT(0,45 x 2)m có trọng lượng 31kg để phục vụ điều tra.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-ĐGTS ngày 20/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lý Nhân, kết luận: “Giá trị của 01 tấm cốt pha bằng tôn KT(0,6 x 2)m là 414.000 đồng; giá trị của 01 tấm cốt pha bằng tôn KT(0,45 x 2)m là 328.500 đồng”.
Tại bản kết luận định giá tài sản trên hồ sơ số 32/KL-ĐGTS ngày 20/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lý Nhân, kết luận: “Giá trị của 01 tấm cốt pha bằng tôn KT(0,6 x 2)m là 414.000 đồng; giá trị của 01 tấm cốt pha bằng tôn KT(0,45 x 2)m là 328.500 đồng”.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Trần Kim T đã ủy quyền cho anh Trần Kim T1, sinh năm 1981, trú tại thôn L, xã M, huyện M1, tỉnh N (em trai của T) bồi thường cho anh Trần Duy L 800.000 đồng (là tiền 02 tấm cốt pha T đã trộm cắp của anh Th, anh Th yêu cầu bồi thường trực tiếp cho anh L); bồi thường cho chị Ngô Thị Hải Y 1.500.000 đồng. Anh Trần Duy L và chị Ngô Thị Hải Y đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự. Chị Trần Thị Th và ông Trần Văn L không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.
Vật chứng của vụ án:
- Đối với 09 tấm phên sắt KT(1,3 x 0,9)m; 32 thanh sắt phi 12 - Việt Nhật mỗi thanh dài 1m67; 28 thanh sắt phi 12 Việt Nhật mỗi thanh dài 1m30; 92 thanh sắt phi 12 Việt Nhật mỗi thanh dài 89cm; 21 thanh sắt phi 12 Việt Nhật mỗi thanh dài 89cm, tài liệu điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH Ph; 01 tấm cốt pha KT(0,6 x 2)m, 01 tấm cốt pha KT(0,45 x 2)m là tài sản hợp pháp của anh Trần Duy L. Ngày 14/5/2022 và ngày 24/5/2022, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lý Nhân ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại số tài sản trên cho các chủ sở hữu.
- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát: 18S8 - 6895; 01 đăng ký xe mô tô mang tên Trần Kim T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung; 01 căn cước công dân mang tên Trần Kim T đã thu giữ được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân để phục vụ công tác xét xử.
Đối với hành vi trộm cắp của gia đình anh Trần Khắc Th 02 tấm cốt pha bằng tôn trị giá 828.000 đồng vào các ngày 03/5/2022 và 04/5/2022 của Trần Kim T. Công an huyện Lý Nhân ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Trần Kim T.
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS-LN ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Trần Kim T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Kim T từ 12 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng vụ án.
- Bị cáo Trần Kim T khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý nhân đã truy tố; không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo Trần Kim T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với vật chứng thu được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 26, 27, 28, 29/4/2022 và sáng ngày 06/5/2022 tại nhà văn hóa thôn 2, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Trần Kim T đã có hành vi lén lút 09 lần trộm cắp được tổng số 19 tấm phên sắt, mỗi phên được ghép bằng các thanh sắt phi 12 Việt Nhật có trọng lượng trung bình 14kg/phên của Công ty TNHH Ph, rồi đem đến các cửa hàng thu mua phế liệu của chị Ngô Thị Hải Y và chị Trần Thị Th bán được khoảng 2.740.000 đồng. Số tiền bán tài sản trộm cắp được bị cáo sử dụng vào mục đích tiêu sài cá nhân hết. Đến 21 giờ ngày 06/5/2022, cũng với thủ đoạn tương tự, Trần Kim T tiếp tục trộm cắp 03 tấm phên sắt của Công ty TNHH Ph để tại nhà văn hóa thôn 2, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, khi đang chở đi bán thì bị quần chúng nhân dân phát hiện, bắt giữ. Tổng trị giá tài sản của 10 lần trộm cắp là 22 phên sắt của Công ty TNHH Ph có tổng trọng lượng là 287,9kg, với tổng trị giá là 6.019.800 đồng (Sáu triệu không trăm mười chín nghìn tám trăm đồng).
Giá trị tài sản mà Trần Kim T mỗi lần thực hiện hành vi trộm cắp đều dưới 02 triệu đồng nhưng liên tục và kế tiếp nhau về thời gian, chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính; mặt khác bản thân Trần Kim T xác định muốn trộm cắp các phên sắt với số lượng lớn song vì lý do khách quan đi xe môtô mà các phên sắt nặng, cồng kềnh, sợ bị chủ sở hữu và quần chúng nhân dân phát hiện nên buộc phải thực hiện hành vi trộm cắp làm nhiều lần. Do đó hành vi nêu trên của Trần Kim T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo đảm bảo đúng pháp luật.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Kim T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an địa phương. Vì vậy phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo được bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bồi thường thiệt hại cho các đương sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được trả lại tài sản và nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và không có ý kiến gì khác nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô BKS: 18S8 - 6895 và 01 đăng ký xe mang tên Trần Kim T1. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Trần Kim T1, năm 2020 anh T1 đã cho bị cáo chiếc xe trên, bị cáo đã sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến tội phạm, 01 căn cước công dân mang tên Trần Kim T là giấy tờ tuỳ thân nên xem xét trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và các đương sự trong vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Hành vi trộm cắp của gia đình anh Trần Khắc Th 02 tấm cốt pha bằng tôn trị giá 828.000 đồng vào các ngày 03/5/2022 và 04/5/2022 của Trần Kim T. Do bản thân T chưa bị xử phạt hành chính và chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nên ngày 17/6/2022, Công an huyện Lý Nhân ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Trần Kim T về hành vi “Trộm cắp tài sản” là phù hợp pháp luật.
- Đối với chị Ngô Thị Hải Y và chị Trần Thị Th là người đã mua các tấm phên sắt và tấm cốt pha của Trần Kim T. Chị Y và chị Th không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lý Nhân không xử lý đối với chị Ngô Thị Hải Y và chị Trần Thị Th về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng pháp luật.
- Đối với việc bà Trần Thị Th trình báo bị mất trộm 02 tấm cốt pha bằng tôn KT(0,45 x 2)m. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lý Nhân đã tiến hành xác minh đối tượng đi xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS: 90H6-8958 như anh Trần Duy L đã cung cấp nhưng vẫn chưa xác định được đối tượng, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lý Nhân đã tách ra để tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Kim T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Kim T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát: 18S8-6895 màu xanh, nhãn hiệu SUFAT, số máy FMH-053969, số khung PJ-053969 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Trần Kim T1.
- Trả lại Trần Kim T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, màu vàng đồng, IMEI 1: 352818103696133; IMEI 2: 352819103696131, bên trong có gắn 02 sim số điện thoại 0886096362 và 0941271048, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án dân sự và 01 căn cước công dân mang tên Trần Kim T.
(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 26/7/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Lý Nhân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/1016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Kim T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Cơ quan CSĐT- Cơ quan THA hình sự - Công an huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS huyện Lý Nhân; - Bị cáo; bị hại, đương sự; - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Quốc Huy |