- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2022/HS-ST Ngày: 21-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tòng
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Hoàng Phúc
2/ Ông Nguyễn Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Cao Duyệt Phương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và 21 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2022/TLST - HS ngày 09 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 đối với:
- Bị cáo: Trần Văn P, sinh năm 1988; tại tỉnh Bến Tre; ĐKTT: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Trần Văn Đ và bà Lương Thị Yến P1; Bị cáo sống chung như vợ chồng với Phạm Tú T từ năm 2013 đến năm 2016 và hiện tại sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Bích T1; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 14/7/2021, Trần Văn P bị Công an xã Tường Đa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Chưa thực hiện quyết định).
Nhân thân:
+ Năm 2004, Trần Văn P bị Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đưa vào Trường giáo dưỡng 24 tháng theo Quyết định số 5080/QĐ-UB ngày 03/8/2004 về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
+ Năm 2011, Trần Văn P bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 13/2011/HSST ngày 14/3/2011.
+ Năm 2013, Trần Văn P bị Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 180/2013/HSST ngày 27/11/2013.
+ Năm 2018, Trần Văn P bị Công huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 001705/QĐ-XPVPHC ngày 09/5/2018.
+ Ngày 06/9/2021, Trần Văn P bị Ủy ban nhân dân Phường Phú Tân, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Ra đường trong trường hợp không cần thiết trong thời gian dịch bệnh Covid-19” (Chưa thực hiện quyết định).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/01/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Huỳnh Lâm M, sinh năm 2002. Địa chỉ: Ấp V, xã Đ, huyện T, tỉnh Bến Tre. Nơi ở hiện tại: Ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt).
+ Đỗ Văn T2, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Khu vực A, Thị trấn S, huyện T, tỉnh C. Nơi ở hiện tại: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).
+ Nguyễn Hoàng M2, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).
+ Trần Văn Đ, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn P là một đối tượng nghiện ma túy, để có tiền mua ma túy sử dụng từ ngày 10/08/2021 đến ngày 24/08/2021, P đã nhiều lần đột nhập vào quán “Thiên Nhi” ở ấp Phú Hữu, xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre do Huỳnh Lâm M, sinh năm 2002 làm chủ để lấy trộm tài sản, cụ thể:
Khoảng 09 giờ sáng ngày 10/8/2021, Trần Văn P cùng Nguyễn Thị Bích T1 và Nguyễn Hoàng M2 đột nhập quán “Thiên Nhi” lấy mỗi người 01 chai nước ngọt (loại Sting) trong quán để uống, sau đó cả ba bỏ ra ra về.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/8/2021, Trần Văn P một mình tiếp tục quay trở lại quán Thiên Nhi. Tại đây, P lấy trộm 05 chai nước ngọt (loại Sting) trong quán mang ra ngoài một mình uống hết.
Khoảng 15 giờ chiều ngày 10/8/2021, một mình P tiếp tục quay trở lại quán lấy trộm một máy khoan điện rồi mang đi bán cho một người phụ nữ khoảng 45 đến 50 tuổi, không rõ họ tên, lai lịch với giá 200.000đ, số tiền bán được P mua ma túy sử dụng hết.
Khoảng 12 giờ trưa ngày 14/8/2021, P một mình điều khiển xe môtô gắn biển kiểm soát 71K1-1528 tiếp tục đột nhập vào quán Thiên Nhi lấy trộm một hệ thống dây điện, 01 ổ cấm điện và bóng và 02 cây quạt điện loại quạt đứng bỏ vào một bao tải. Trong lúc P đang lấy trộm tài sản thì có Nguyễn Thị Bích T1 đến, P nhờ T1 phụ P khiêng cây quạt điện đứng đi ra ngoài để lên xe cho P. Sau đó, P chở tài sản vừa trộm được đến khu vực gần bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu gặp một người thanh niên không rõ lai lịch đổi tài sản trộm được lấy ma túy sử dụng.
Khoảng 15 giờ ngày 19/8/2021, P một mình điều khiển xe môtô gắn biển kiểm soát 71K1-1528 đến và đột nhập vào quán Thiên Nhi lấy trộm 01 nồi cơm điện, 01 bếp ga mini, 01 hệ thống dây điện, 01 ổ cấm còn lại của quán, 02 cây quạt điện (loại quạt treo tường) bỏ vào một bao tải. Sau khi lấy được tài sản, P chở đến khu vực gần bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu gặp một người thanh niên không rõ lai lịch đổi lấy ma túy sử dụng. Ngày 24/8/2021, P một mình điều khiển xe môtô biển số 71K1-1528 đến và đột nhập vào quán Thiên Nhi lấy trộm một bàn thờ ông địa bằng gỗ mang đi bán cho một người tên T2, không rõ lai lịch, ở khu vực cống Bà Chí xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre với số tiền là 200.000đ. Số tiền bán được P mua ma túy sử dụng hết.
Vật chứng tạm giữ: một xe môtô hai bánh gắn biển kiểm soát 71K1-1528, nhãn hiệu NEWSIVA, màu sơn xanh, có số máy US100E-9012325, số khung PCG0011H-005462. Riêng số tài sản P lấy trộm quá trình điều tra không thu hồi được.
Tại bản bản kết luận định giá tài sản số 2150 ngày 02/11/2021 của Hội đồng định giá huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre kết luận:
- Hệ thống dây điện, ổ cắm điện và bóng đèn điện có giá trị 354.000 đồng.
- 02 (hai) cái quạt điện loại đứng màu trắng có giá trị 406.000 đồng.
- 02 (hai) cái quạt điện loại treo tường màu trắng có giá trị 495.000 đồng.
- 01 (một) nồi cơm điện nhãn hiệu Kim cương có giá trị 265.000 đồng.
- 01 (một) bếp gas mini màu trắng có giá trị 229.000 đồng.
- 01 (một) máy khoan điện màu xanh dương có giá trị 700.000 đồng.
- 01 (một) bàn thờ ông địa bằng gỗ có giá trị 2.473.000 đồng.
- 08 chai nước giải khát các loại có giá trị 70.000 đồng.
Tổng giá trị tại sản bị P chiếm đoạt là 4.992.000 đồng.
Quá trình điều tra, chị Huỳnh Lâm M còn khai bị mất thêm 13 ghế bằng nhựa, 07 cái bàn nhựa, 20 ly thủy tinh loại có quay cầm, 72 chai nước uống các loại, 01 ghế kim loại cao 02 mét, số tiền 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, qua làm việc P không thừa nhận lấy trộm các tài sản này. Ngoài lời khai của chị M thì không còn chứng cứ nào khác. Do đó, không có cơ sở xác định Trần Văn P đã lấy tất cả các tài sản mà chị M đã bị mất. Hiện, chị Huỳnh Lâm M yêu cầu bị cáo Trần Văn P bồi thường số tiền là 4.992.000đ là giá trị tài sản bị mất. Bị cáo Trần Văn P đồng ý bồi thường số tiền này nhưng hiện tại chưa bồi thường.
Ngoài thực hiện các vụ trộm cắp ở quán Thiên Nhi, vào khoảng 11 giờ ngày 03/11/2021, Trần Văn P điều khiển xe máy hiệu Max (không nhớ biển số) đi ngang qua xưởng lưới B40 Hướng Hà thuộc ấp Phú Mỹ, Phú Túc thì P nhìn thấy 01 xe đạp điện hiệu ASAMA A -2248, màu hồng của anh Đỗ Văn T2 đang dựng sát đường nhưng không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lúc này, P điện thoại cho một đối tượng tên H (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi có mua xe đạp điện không thì H nói có và hẹn xem xe ở khu vực cầu Ba Cò thuộc xã Phú Túc. Sau khi tìm được người mua xe, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Max đến quán chè Kim Tuyến ở ấp Phú Mỹ, xã Phú Túc để gặp Nguyễn Thị Bích T1 và nhờ T1 đi phụ đẩy xe. Khi gặp T1, P nói dối là xe của bạn bị hư nhờ đẩy dùm. Sau đó, P dùng xe mô tô chở T1 từ quán chè đến xưởng lưới B40 Hướng Hà, P đậu xe bên ngoài và kêu T1 đi bộ vào dẫn xe đạp điện ra ngoài, P kêu T1 lên xe đạp điện ngồi cho P dùng xe mô tô đẩy đi về hướng cầu Ba Cò. Khi cách cầu Ba Cò khoảng 200 mét, P kêu T1 xuống xe rồi một mình P dùng xe mô tô kè xe đạp điện đến quán cà phê (không nhớ tên) bán cho H với giá 2.000.000 đồng. Sau khi bán xe xong, P quay lại chở T1 trở về nhà trọ của mình ở thành phố Bến Tre. Số tiền bán được phương mua ma túy sử dụng hết. Quá trình điều tra không thu hồi được tài sản P đã lấy trộm.
Tại bản kết luận định giá 254 ngày 04/03/2022 của Hội đồng định giá huyện Châu Thành kết luận xe đạp điện hiệu ASAMA A -2248, màu hồng tại thời điểm mất có giá trị là 3.500.000 đồng. Anh Đỗ Văn T2 yêu cầu bồi thường số tiền là 3.500.000đ là giá trị chiếc xe đạp điện bị mất. Bị cáo Trần Văn P đồng ý bồi thường số tiền này nhưng hiện tại chưa bồi thường.
Cáo trạng số 29/CT-VKSCT ngày 09/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm “Tội trộm cắp tài sản” và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 12 tháng tù đến 24 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị M số tiền là 4.992.000 đồng là giá trị tài sản bị mất và anh T2 số tiền là 3.500.000 đồng là giá trị chiếc xe đạp điện bị mất.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho ông Trần Văn Đ một xe môtô hai bánh gắn biển kiểm soát 71K1-1528, nhãn hiệu NEWSIVA, màu sơn xanh, có số máy US100E-9012325, số khung PCG0011H-005462.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đồng thời nói lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại anh T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị T1, anh M1, ông Đ vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử và đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị hại về đặc điểm tài sản, vị trí, thời gian để tài sản mà bị cáo chiếm đoạt và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Để có tiền mua ma túy sử dụng nên trong các ngày 10/08/2021, 14/08/2021, 19/08/2021, 24/08/2021 và ngày 03/11/2021 Trần Văn P đã có hành vi nhiều lần đột nhập vào quán “Thiên Nhi” ở ấp Phú Hữu, xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre của Huỳnh Lâm M lấy trộm 01 hệ thống dây điện, 01 ổ cắm điện và bóng đèn điện, 02 cái quạt điện loại đứng màu trắng, 02 cái quạt điện loại treo tường màu trắng, 01 nồi cơm điện nhãn hiệu Kim cương, 01 bếp gas mini màu trắng, 01 máy khoan điện màu xanh dương, 01 bàn thờ ông địa bằng gỗ, 08 chai nước giải khát các loại với tổng giá trị là 4.992.000đ; lấy của anh Đỗ Văn T2 ở ấp Phú Mỹ, xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre 01 xe đạp điện hiệu ASAMA A -2248, màu hồng có giá trị là 3.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Phương đã chiếm đoạt là 8.492.000 đồng.
Hành vi của bị cáo là hành vi cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn P đã phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác trong quản lý tài sản của bị hại để thực hiện hành vi phạm tội, trên thực tế bị cáo đã thực hiện việc chiếm đoạt được tài sản như ý định của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mọi người không an tâm trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi.
Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bác ruột là liệt sĩ là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo nhân thân xấu, ngày 14/7/2021, bị cáo có hành vi “Trộm cắp tài sản” bị Công an xã Tường Đa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng chưa được xóa tiền sự mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Đồng thời, bị cáo đã từng bị Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đưa vào Trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản” vào năm 2004. Năm 2018, bị Công huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/9/2021, bị Ủy ban nhân dân Phường Phú Tân, TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Ra đường trong trường hợp không cần thiết trong thời gian dịch bệnh Covid-19”. Năm 2011, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và bị Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào năm 2013. Do đó, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, bản tính xem thường pháp luật khó cải tạo giáo dục của bị cáo cùng với nhân thân xấu của bị cáo cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự:
Chị Huỳnh Lâm M yêu cầu bị cáo Trần Văn P bồi thường số tiền là 4.992.000 đồng là giá trị tài sản bị mất và chị M không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đồng ý tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của chị M. Do đó, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị Huỳnh Lâm M số tiền 4.992.000 đồng.
Anh Đỗ Văn T2 yêu cầu bồi thường số tiền là 3.500.000 đồng là giá trị chiếc xe đạp điện bị mất. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đồng ý tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của anh T2. Do đó, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh Đỗ Văn T2 số tiền 3.500.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe môtô biển số 71K1-1528, nhãn hiệu NEWSIVA, màu sơn xanh, có số máy US100E-9012325, số khung PCG0011H-005462 mà Trần Văn P sử dụng đi trộm tài sản. Quá trình điều tra xác định được là của ông Trần Văn Đ cho Trần Văn P mượn để đi lại, ông Đ không biết P sử dụng để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên ngày 16/04/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho ông Trần Văn Đ là phù hợp.
Đối với chiếc xe môtô dạng xe max, không nhớ rõ biển số, quá trình điều tra P khai nhận trên đường đi thành phố HCM xe môtô này bị hư, không có tiền sửa chữa nên P đã bán xe cùng với chiếc điện thoại di động dùng để liên lạc với H cho người không rõ lai lịch với giá 300.000đ mua ma túy sử dụng hết nên không thể thu hồi được.
[9] Đối với hành vi trộm cắp của Nguyễn Hoàng M2 và Nguyễn Thị Bích T1 tại quán Thiên Nhi. Qua tra cứu xác định được M2 và T1 chưa có tiền án tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản; giá trị tài sản lấy trộm dưới 2.000.000 đồng nên Công an huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với M2 và T1 là phù hợp quy định.
Đối với hành vi của Nguyễn Thị Bích T1 đã giúp Trần Văn P lấy xe đạp điện vào ngày 03/11/2021 tại ấp Phú Mỹ, xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Qua điều tra xác định được tại thời điểm lấy xe đạp điện T1 không biết đó là tài sản do P trộm cắp nên không đồng phạm với Trần Văn P là phù hợp quy định.
Về án phí:
- Án hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.
- Án dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí có giá ngạch là 8.492.000 đồng x 5% = 424.500 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm “Tội trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Trần Văn P 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2022.
[2] Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 589 khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị Huỳnh Lâm M số tiền 4.992.000 đồng (Bốn triệu chín trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh Đỗ Văn T2 số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong.
[3] Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho ông Trần Văn Đ xe môtô biển số 71K1-1528, nhãn hiệu NEWSIVA, màu sơn xanh, có số máy US100E-9012325, số khung PCG0011H-005462.
[4] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn P phải nộp án phí là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn P phải nộp án phí là 424.500 (Bốn trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm) đồng.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - STP tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND huyện Châu Thành (1b); - Chi cục THADS huyện Châu Thành (1b); - Công an huyện (1b); - Bộ phận HS CA huyện (2b); - UBND xã Phú Túc (1b); - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thanh Tòng |