vanban.org

Bản án 35/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 05/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Đỗ Mạnh H cho Ủy ban nhân dân xã H1, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Mạnh H - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2022/HS-PT
Ngày 13 - 5 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Danh.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh;

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Bích Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 165/2021/TLPT-HS ngày 29 tháng 12 năm 2021 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 72/2021/HS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Mạnh H, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2003 (Khi phạm tội mới 17 tuổi 08 tháng 09 ngày) tại xã H1, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: thôn Đền, xã H1, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thành T và bà Vũ Thị P; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, “có mặt”.

Trong vụ án còn có người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/06/2021, Nguyễn Đức T dùng điện thoại Iphone 11 (bản lock) của T lên mạng Shoppe để đặt mua 01 điện thoại di động Iphone 12Pro–128Gb với giá 26.427.600 đồng, thỏa thuận nhận hàng thì trả tiền. Sau đó, do không đủ tiền mua nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên và sửa thông tin người mua và nhận hàng với tên giả là “Vũ Đức A, cạnh trường cấp 2 thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, số điện thoại 0981.431561”. Đến tối ngày 15/06/2021, T đi chơi cùng Đỗ Mạnh H và rủ “Tao đặt trên mạng cái Iphone 12 mai nó về, mày lái xe tao ngồi sau giả vờ kiểm tra, rồi hai thằng phóng đi luôn, nếu lấy được thì bán lấy tiền chia đôi, mày lấy tiền mà thay điện thoại”. H đồng ý và nói “ok”. Đến sáng ngày 16/06/2021, anh Nguyễn Văn K là nhân viên giao hàng Trạm Ninja Van xã Bắc Bình, huyện Lập Thạch tiếp nhận đơn hàng có nội dung: “Apple Iphone 12Pro–128Gb, Pacific Blue, giá tiền 26.427.600vnđ, địa chỉ nhận hàng: Vũ Đức A, cạnh trường cấp 2 Hoa Sơn, huyện Lập Thạch,tỉnh Vĩnh Phúc, số điện thoại 0981.431561” và gọi điện theo số điện thoại trên để giao hàng thì T hẹn anh K đợi ở đường liên xã gần cổng trường cấp 2 thị trấn Hoa Sơn thuộc tổ dân phố Cộng Hòa, thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch. Lúc này Hiếu đang chơi ở nhà T, sau đó T điều khiển xe máy biển kiểm soát 88K1 – 403.57 chở H đi gặp anh K. Trên đường đi, T bảo H lấy chiếc cờ lê đem theo tháo biển số xe máy để tránh bị phát hiện rồi đi tiếp. Khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, T và H đến chỗ hẹn gặp anh K, T hỏi “Anh có phải Shipper đuôi số 996 giao hàng điện thoại không?”, thì anh K nói “Vâng”. T yêu cầu anh K cho xem hàng thì anh K đưa cho T 01 gói hàng hình hộp bọc bằng bìa cattong bên ngoài có dán tờ giấy ghi địa chỉ của T nên T xác định đúng là chiếc điện thoại Iphone 12 Pro–128 Gb đã đặt mua trên mạng Shopee. Bàn bạc từ trước là H lái xe nên H nói với anh K “Anh đợi bọn em tý, em ra đây đổ xăng rồi quay lại”. T đưa gói hàng cho anh K rồi chở H đi về phía cây xăng thị trấn Hoa Sơn cách đó khoảng hơn 100 mét nhưng không đổ xăng mà nói với H “Mày lai đi để tao ngồi sau”, H hiểu ý là H điều khiển xe còn T sẽ ngồi sau cướp giật gói hàng điện thoại nhưng do sợ H đi không quen xe nên sau đó T tiếp tục cầm lái chở H quay lại gặp anh K. Lúc này, anh K đã xuống xe tắt máy và dựng xe ở lề đường và đi bộ cầm gói hàng đứng ở lề đường bên phải hướng xã H1 đi thị trấn Hoa Sơn và cách xe máy của mình khoảng 2 mét, T dừng xe máy cách anh K khoảng 1 mét, vẫn ngồi trên xe nổ máy, H ngồi sau xe bảo anh K “Anh cho em chếch lại mã hàng” thì anh K đưa gói hàng cho H cầm, lúc này T phóng xe bỏ chạy về nhà Trung ở thôn Tây Sơn, xã H1. Tại phòng ngủ của T, T và H bóc gói hàng điện thoại vừa cướp giật được thì thấy bên trong có 01 chiếc điện thoại Iphone 12Pro- 128Gb màu xanh có số máy MGMN3VN/A, số seri G6TFKB6KOD91. Khoảng 12 giờ cùng ngày, T và H đi đến quán điện thoại của anh Hoàng Văn H ở thôn Làng Sen, xã H1, huyện Lập Thạch bán chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được của anh K được 22.000.000 đồng; T bán 01 điện thoại Iphone 11 pro Max (bản lốc) của T được 12.500.000 đồng; H bán 01 điện thoại Iphone 6s của H được 1.200.000 đồng. Sau đó, T mua của anh H 01 điện thoại Iphone 11 ProMax (bản quốc tế) giá 16.990.000 đồng và 01 tai nghe airpod giá 290.000 đồng; H mua 01 điện thoại Iphone XS Max giá 12.000.000 đồng và 510.000 đồng tiền phụ kiện (gồm: dán màn hình 100.000 đồng; ốp lưng 20.000 đồng; bộ sạc nhanh 390.000 đồng). Sau khi đối trừ tiền mua điện thoại và phụ kiện thì H, T còn thừa 5.900.000 đồng nhưng H chỉ đưa cho T 5.500.000 đồng, còn giữ lại 400.000 đồng hẹn khi nào T đưa hóa đơn điện thoại Iphone 12 sẽ trả nốt. Sau đó, T cầm số tiền 5.500.000 đồng và điện thoại Iphone 11 ProMax (bản quốc tế), H cầm 01 điện thoại Iphone XS Max về sử dụng. Còn anh K, sau khi bị T và H chiếm đoạt chiếc điện thoại đã đến Công an Thị trấn Hoa Sơn, Công an huyện Lập Thạch để trình báo. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T và H bị Công an huyện Lập Thạch triệu tập đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, T và H đã tự nguyện giao nộp toàn bộ vật chứng có liên quan. Ngày 16/6/2021, anh Hoàng Văn H tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 12Pro-128Gb màu xanh có số máy MGMN3VN/A, số seri G6TFKB6KOD91 và 01 điện thoại Iphone 11 pro Max (bản lốc).

Tại Kết luận định giá số 492/KL – HĐĐG ngày 21/06/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lập Thạch kết luận: Giá trị chiếc điện thoại Iphone 12pro–128Gb màu xanh, số máy MGMN3VN/A, số seri G6TFKB6KOD91 là 26.000.000 đồng.

Trong vụ án này, Nguyễn Đức T tính đến ngày thực hiện hành vi cướp giật tài sản, chưa đủ 16 tuổi (mới 15 tuổi 06 tháng 20 ngày), do đó không cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Công an huyện Lập Thạch đã đề nghị Chủ tịch UBND xã H1 xử lý hành chính bằng biện pháp giáo dục tại xã phường.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2021/HSST ngày 18/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23 tháng 11 năm 2021 bị cáo Đỗ Mạnh H kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Mạnh H, sửa Bản án sơ thẩm số 72/2021/HS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; xử phạt bị cáo 01 (Một) năm 3 (Ba) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Mạnh H làm trong hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung vụ án: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Đỗ Mạnh H đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ căn cứ để kết luận Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 16/6/2021, tại khu vực đường liên xã thuộc Tổ dân phố Cộng Hòa, thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Đức T, sinh ngày 21/11/2005 và bị cáo Đỗ Mạnh H đã có hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại Iphone 12pro–128Gb màu xanh của anh Nguyễn Văn K là người đi giao hàng của Trạm Ninja Van xã Bắc Bình, huyện Lập Thạch đem bán để tiêu sài cá nhân. Chiếc điện thoại có trị giá là 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng).

Hành vi của Nguyễn Đức T và Đỗ Mạnh H đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự thì người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Thời điểm thực hiện hành vi cướp giật tài sản thì Nguyễn Đức T chưa đủ 16 tuổi (mới 15 tuổi 06 tháng 20 ngày) nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chỉ khởi tố, truy tố đối với Đỗ Mạnh H là đúng pháp luật.

Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh H về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đỗ Mạnh H, thấy rằng: Mức án 01 năm 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ của hành vi phạm và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Tuy nhiên, việc tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải cách ly khỏi cuộc sống ở ngoài cộng đồng xã hội là nghiêm khắc, không cần thiết. Vì bị cáo H chỉ tham gia phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức cho Nguyễn Đức T; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội còn hạn chế, được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự. Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; tài sản đã được thu hồi, trả lại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu nên hành vi phạm tội đáng được khoan hồng, có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án cụ thể này, thấy rằng bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trên địa bàn, không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục như đề nghị của Viện kiểm sát là đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội tự cải tạo, sửa chữa sai lầm và tiếp tục được học tập, lao động để cống hiến cho xã hội.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Mạnh H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 72/2021/HS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc về biện pháp chấp hành hình phạt.

Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Mạnh H cho Ủy ban nhân dân xã H1, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ