vanban.org

Bản án 35/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phùng Thị H, chị Phùng Thị H được ly hôn với anh Kiều Văn Tr.

Về con chung: Giao cho anh Kiều Văn Tr được trực tiếp nuôi cháu Kiều Nhật L, sinh ngày: 19/11/2013. Chị Phùng Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Không xem xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa anh T và chị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phùng Thị H, chị Phùng Thị H được ly hôn với anh Kiều Văn Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SƠN TÂY – HÀ NỘI
–––––––––––––––
Bản án số: 35/2022/HNGĐ - ST
Ngày 29 - 9 - 2022
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Tú

+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phương Văn Quang, bà Nguyễn Thị Thi.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lương Ngọc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 29/9/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thô lý số 166/2022/TLST-HNGNĐ, ngày 05/8/2022, vÒ viÖc tranh chấp H«n nh©n và gia ®×nh, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phùng Thị H, sinh năm: 1991.

HKTT: Thôn Tr, xã C, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

Địa chỉ: Thôn Kh, xã S, Sơn Tây, Hà Nội; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Kiều Văn Tr, sinh năm: 1992.

HKTT: Thôn Tr, xã C, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

Địa chỉ: Thôn L, xã Cổ Đ, Sơn Tây, Hà Nội; có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Phùng Thị H trình bày:

Chị và anh Kiều Văn Tr kết hôn vào ngày 21/12/2012 có đăng ký tại UBND xã Cổ Đông, thị xã Sơn Tây. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng từ khi chị H sinh con năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do khi sinh chị bị ốm đau bệnh tật, chân bị bệnh đi lại khó khăn. Từ đó vợ chồng thiếu sự đồng cảm chia sẻ với nhau. Do mâu thuẫn nên từ năm 2014 chị đã về nhà bố đẻ tại thôn Khoang Sau, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây để ở cho đến nay, hiện tại chị cũng đang được nhà nước trợ cấp tàn tật hàng tháng. Trong quá trình vợ chồng ly thân thì chị và anh Trcũng không quan tâm hỏi han nhau gì nhau nữa, nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Tr, chị xin được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Tr có một cháu là Kiều Nhật L, sinh ngày: 19/11/2013, cháu L đang sống cùng với anh Trtừ năm 2014 cho đến nay, cháu được chăm sóc, sinh hoạt đi học đầy đủ. Khi ly hôn chị đồng ý giao cho anh Trđược tiếp tục được nuôi cháu L; Về tài sản chung, công sức, nợ chung của vợ chồng: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giải thích cho chị Phùng Thị H quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định, chị H trình bày không yêu cầu trợ giúp pháp lý vì chị có thể tự trình bày được nguyện vọng của mình.

2. Đối với bị đơn là anh Kiều Văn Tr: Tòa án ®· tiÕn hµnh thủ tục giao các thông báo, triệu tập anh Trđể giải quyết vụ án nhưng anh Tr không đến, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho gia đình anh Tr. Đồng thời tiến hành lấy lời khai của bà Khuất Thị Đlà mẹ đẻ hiện ở cùng nhà với anh Tr, thì x¸c định gia đình đã nhận được văn bản của Tòa án và giao lại cho anh Tr, nhưng anh Trbận công việc không đến Tòa án để giải quyết và có bảo bà Khuất Thị Đ đến Tòa án để nhận văn bản và trình bày ý kiến của gia đình đối với việc chị H xin ly hôn. Sau khi nhận được Quyết định xét xử và Giấy triệu tập đến phiên tòa anh Kiều Văn Tr đã có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến trình bày: Năm 2012 anh và chị H có kết hôn với nhau ,c uộc sống vợ chồng hòa hợp đến năm 2013 chị H về nhà bố mẹ đẻ ở cho đến nay. Nay chị H làm đơn xin ly hôn với anh thì anh đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Kiều Nhật L, sinh ngày: 19/11/2013, hiện ở cùng anh từ năm 2014 cho đến nay. Khi ly hôn anh xin được nuôi cháu L và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, công sức, nợ chung của vợ chồng: Không có.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến về việc tiến hành tố tụng của Toà án và việc chấp hành pháp luật của các đương sự:

Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị H đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Kiều Văn Tr có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin hôn của chị Phùng Thị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Kiều Văn Tr . Về con chung giao cho anh Kiều Văn Tr được trực tiếp nuôi cháu Kiều Nhật L, sinh ngày: 19/11/2013, ghi nhận sự tự nguyện của anh Trkhông yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, công sức và nợ chung của chị H, anh Trkhông có.

Về án phí: Chị H là người tàn tật được nhận trợ cấp xã hội hành tháng nên được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà:

[1]. Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Anh Kiều Văn Tr có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ theo quy định tại Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án. Anh Kiều Văn Tr có quyền và nghĩa vụ sau khi xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị H và anh Kiều Văn Tr kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Trlà hợp pháp.

Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh Tr đã diễn ra từ lâu, nguyên nhân do thiếu sự đồng cảm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân hoàn toàn từ năm 2014 cho đến nay mỗi người một nơi.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị H và anh Tr đã đã trầm trọng, Đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

[3]. Về con chung: Chị H và anh Tr có một con chung là Kiều Nhật L, sinh ngày: 19/11/2013. Hội đồng xét xử xác định hiện tại cháu L đang ở cùng anh Tr, được chăm sóc, sinh hoạt đầy đủ, anh Trcó nguyện vọng được nuôi cháu L. Chị Phùng Thị H hiện đang bị tàn tật và cũng đồng ý để anh Trđược tiếp tục nuôi cháu L. Vì vậy giao cháu Kiều Nhật L cho anh Trđược trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình, và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Kiều Nhật L là được ở với anh Tr; anh Trkhông yêu cầu chi Hoa cấp dưỡng nuôi con chung nên không phải xem xét.

[4]. Về tài sản chung, công sức, nợ: Chị Phùng Thị H và anh Kiều Văn Tr đều xác nhận là không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5].Về án phí: Chị H là người tàn tật được nhận trợ cấp xã hội hành tháng nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phùng Thị H, chị Phùng Thị H được ly hôn với anh Kiều Văn Tr.

2. Về con chung: Giao cho anh Kiều Văn Tr được trực tiếp nuôi cháu Kiều Nhật L, sinh ngày: 19/11/2013. Chị Phùng Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Phùng Thị H được miễn nộp án phí ly hôn. Chị Phùng Thị H đã nộp 300.000 ®ång tạm ứng án phí t¹i biªn lai thu sè AA/2020/0056445 ngµy 05/8/2022 cña Chi côc Thi hµnh ¸n d©n sù thÞ x· S¬n T©y, thµnh phè Hµ Néi. Trả lại chị Phùng Thị H 300.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Phùng Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Kiều Văn Tr vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ