vanban.org

Bản án 35/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích C

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Bích C và anh Lê Minh T Về nuôi con chung: Giao con chung tên Lê Ngọc Bảo Tr, sinh ngày 13/01/2016, giới tính nữ cho chị Trần Thị Bích C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh Lê Minh T Không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Châu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích C
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- 1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ L
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 35 /2022/HNGĐ - ST
Ngày: 22/9//2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Liễu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quang- ông Nguyễn Thanh Hoàng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 267/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2022 về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên toà số 14/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/9/2022, giữa các đương sự :

* Nguyên Đơn : Chị Trần Thị Bích C, sinh năm 1989,

Địa chỉ: Khu phố 1, phường Tân An, thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận

( Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Anh Lê Minh T, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 1, Tân An, thị xã L, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 4 năm 2022 và qua bản tự khai nguyên đơn trình bày;

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Minh T là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn tại UBND phường Tân An, thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận vào ngày 19/3/2015 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2015). Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì

- 2 -

phát sinh mâu thuẫn vì giữa hai vợ chồng không cùng quan điểm sống. Hai bên thường xảy ra tranh cải nên cuộc sống hôn nhân rất áp lực, tình cảm vợ chồng không còn vì vậy chị làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Ngọc Bảo Tr, sau ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung : Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Minh T đã được Tòa án triệu tập lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa và cũng không có ý kiến nộp cho Tòa án.

Tại biên bản xác minh của Tòa án ngày 25/8/2022 thể hiện; Vợ chồng chị C, anh T thường xuyên cải vã xúc phạm nhau, anh T có uống rượu, mâu thuẫn vợ chồng quá trầm nên cuộc sống không hạnh phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến; Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa HĐXX, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Đối với đương sự thì nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến phiên Tòa do đó VKS đề nghị HĐXX giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T là hôn nhân hợp pháp, qua nội dung đơn khởi kiện và qua bản tự khai của chị C cho thấy: Vợ chồng chị C sau kết hôn đã chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó trong cuộc sống phát sinh nhiều mâu thuẫn vì hai bên không cùng quan điểm sống. Hai bên thường xuyên xúc phạm nhau nặng nề, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó đại diện VKS thị xã Lagi đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu nguyên đơn. Cho ly hôn, về con chung chị C có nguyện vọng được nuôi con chung do đó đề nghị HĐXX giao con chung cho chị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng .

Tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xét

Án phí đương sự phải nộp án phí theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân thị xã L nhận định:

Về tố tụng; Đây là vụ án tranh chấp “ Ly hôn, nuôi con”, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thị xã L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã L theo quy định tại các Điều 28, 29, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến phiên Tòa do đó HĐXX cần đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và 228 BLTTDS.

Về nội dung: Chị C và anh Lê Minh T là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn tại UBND phường Tân An, thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận vào ngày 19/3/2015 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20/2015). Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời

- 3 -

gian thì phát sinh mâu thuẫn vì giữa hai vợ chồng không cùng quan điểm sống. Hai bên thường xảy ra tranh cải xúc phạm nhau nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Tại biên bản xác minh của Tòa án ngày 25/8/2022 thể hiện; Vợ chồng chị C, anh T thường xuyên cải vã xúc phạm nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng.

Như vậy các bên đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân- gia đình.

Điều 19 Luật hôn nhân và Gia đình quy định Tình nghĩa vợ chồng 1.“ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Vợ chồng chị C, anh T đã vi phạm quy định trên, đây là căn cứ để HĐXX xem xét cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình.

Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình quy định “ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nêu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”

Do các bên đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng nên HĐXX cần cho chị C và anh T ly hôn theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Ngọc Bảo Tr, sinh ngày 13/01/2016, giới tính nữ. Sau ly hôn chị C có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét nguyện vọng nuôi con chung của chị C là chính đáng, vì anh T đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến Toà nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản gửi cho Toà án nên đã từ bỏ các nguyền và nghĩa vụ của anh do đó HĐXX chấp nhận giao con chung chị C là phù hợp.

Về chia tài sản, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị C phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 29, Điều 35, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều: 19, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Bích C

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Bích C và anh Lê Minh T

- 4 -

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Lê Ngọc Bảo Tr, sinh ngày 13/01/2016, giới tính nữ cho chị Trần Thị Bích C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh Lê Minh T Không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh Lê Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Bích C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị C đã nộp theo Biên lai thu số 0005145 ngày 01.6.2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L.

Các đương sự có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ