vanban.org

Bản án 35/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Ngọc H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là anh Nguyễn Thanh Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ. 2. Về con chung: Chị Lê Ngọc H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung là cháu Nguyễn Lê Gia L, sinh ngày 11/3/2013 và Nguyễn Lê Đăng Kh, sinh ngày 02/02/2017.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị H xin ly hôn với anh Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Ngọc H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là anh Nguyễn Thanh Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 35/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09-5-2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

2. Bà Trương Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Ngọc H, sinh năm 1987

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1989

Cùng HKTT: Số nhà MBM/BM, đường LHP, Tổ BM, Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; cùng địa chỉ liên lạc: Số nhà TCB/NH/S, Tổ BM, Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

(Các đương sự vắng mặt tại Tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 12 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn Thanh Đ chung sống và đăng ký kết hôn với nhau từ năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 64, ngày 03 tháng 8 năm 2012.

Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian gần đây vợ chồng liên tục xảy ra những mâu thuẫn, tranh cãi gay gắt mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc tính tình không hợp nhau và quan điểm sống quá khác biệt. Chị H nhận thấy rằng sẽ khó có thể tiếp tục xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc như mong muốn trong tình trạng mâu thuẫn trầm trọng như vậy.

Từ tháng 7/2021 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chỉ còn ràng buộc với nhau về mặt pháp lý nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị H và anh Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Lê Gia L, sinh ngày 11/3/2013 và Nguyễn Lê Đăng Kh, sinh ngày 02/02/2017; sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung; không yêu cầu anh Nguyễn Thanh Đ cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Tại Bản tự khai gửi cho Tòa án, bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ trình bày: Anh Đ đồng ý ly hôn với chị Lê Ngọc H; sau khi ly hôn, anh Đ đồng ý giao các con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Đ và chị H tự thỏa thuận với nhau về cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với tài sản chung và nợ chung thì anh Đ không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn chị Lê Ngọc H và bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ vắng và đều có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn chị Lê Ngọc H đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật; riêng bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng. Do nguyên đơn chị Lê Ngọc H và bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ đều có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục gì thêm.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và Gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Ngày 09 tháng 12 năm 2021, chị Lê Ngọc H có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[1.2]. Về thẩm quyền: Tại thời điểm thụ lý, bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

[1.3]. Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Ngọc H và bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử để giải quyết vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đ chung sống với nhau từ năm 2012, ngày 03 tháng 8 năm 2012 chị H và anh Đ đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa chị H và anh Đ là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc nên đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, do đó hôn nhân giữa chị H và anh Đ là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình chung sống, chị H xác định vợ chồng chỉ chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, thời gian gần đây thì vợ chồng có nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng; hiện nay chị H và anh Đ không ai còn quan tâm đến ai nữa. Việc, chị H và anh Đ không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn là đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng là có thật và đồng ý ly hôn với chị H.

Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H được ly hôn với anh Đ.

[2.2]. Về con chung: Chị H và anh Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Lê Gia L, sinh ngày 11/3/2013 và Nguyễn Lê Đăng Kh, sinh ngày 02/02/2017; sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án chị H đã cung cấp tài liệu chứng minh chị H có đủ khả năng nuôi dạy các con chung; đồng thời cháu Gia L cũng có nguyện vọng được ở với chị H. Còn anh Đ cũng đồng ý giao các con chung cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Vì vậy, để cháu Gia L và cháu Đăng Kh có điều kiện phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội, cần giao cháu Gia L và cháu Đăng Kh cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên yêu cầu của chị H về phần con chung được chấp nhận.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H và anh Đ không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh Đ không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[3]. Tại Tòa, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là có cơ sở.

[4]. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị H phải chịu 300.000 đồng; anh Đ không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 238, 266, 267, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Ngọc H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là anh Nguyễn Thanh Đ.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ.

1.2. Về con chung: Chị Lê Ngọc H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung là cháu Nguyễn Lê Gia L, sinh ngày 11/3/2013 và Nguyễn Lê Đăng Kh, sinh ngày 02/02/2017.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.

1.4. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai có quyền cấm đoán, ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.

1.5. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Lê Ngọc H đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000798 ngày 29/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ