- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình về việc "Ly hôn" giữa bà Trần Thị Hạ V và ông Lê N"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG Bản án số 35/2022/HNGĐ-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày 22.8. 2022 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nhớ và bà Nguyễn Thị Hồng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 123/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2022/QĐXX-ST ngày 6 tháng 7 năm 2022; Quyết định hoãn phiên Tòa số 123/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hạ V, sinh năm 1977; Địa chỉ: K49 đường T, tổ 24, phường H, quận K, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
* Bị đơn: Ông Lê N, sinh năm 1972; Địa chỉ: K49 đường T, tổ 24, phường H, quận K, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Lê N đăng ký kết hôn năm 2000 tại Ủy ban nhân dân phường G, quận K, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ K49 đường T, tổ 24 phường H, quận K, thành phố Đà Nẵng. Quá trình chung sống, vợ chồng tôi đã nhiều lần lục đục, cãi vã khiến hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, chồng tôi thường ghen tuông và đánh đập tôi. Đến nay, tôi xác định không còn tình cảm với ông N và mâu thuẫn đã quá mức trầm trọng không thể hàn gắn được nữa nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Lê N.
* Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên Lê Phương Châu N1, sinh ngày 18.7.2000. Con chung đã trưởng thành nên tôi không đề cập đến.
* Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lê N để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông N đều không có mặt nên không có ý kiến trong hồ sơ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng đã xác định: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để cho bà Trần Thị Hạ V được ly hôn với ông Lê N. Về con chung, tài sản chung, nợ chung không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa bà Trần Thị Hạ V và ông Lê N là tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ cư trú ở địa bàn quận K nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn là ông Lê N vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt ông N.
Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Bà V và ông N kết hôn năm 2000, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường G, quận K, thành phố Đà Nẵng, đây là hôn nhân tự nguyện và đảm bảo các quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được thừa nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống, bà V và ông N đã phát sinh mâu thuẫn. Bà V xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông N ghen tuông đánh đập bà V nhiều lần. Mâu thuẫn kéo dài đến nay vẫn không khắc phục được. Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống vợ chồng của bà V, ông N thực sự đã phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã làm các thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho ông N nhưng ông N vẫn không đến Tòa án để giải quyết việc bà V yêu cầu ly hôn và không gửi cho Tòa án ý kiến của mình, chứng tỏ ông N không có thiện chí trong việc hàn gắn gia đình. Xét mâu thuẫn vợ chồng bà V ông N đã kéo dài, hạnh phúc gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V về việc ly hôn với ông N là phù hợp.
* Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Phương Châu N1, sinh năm 2000, con chung đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
* Về tài sản chung, nợ chung: Bà V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà V phải chịu 300.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Hạ V về việc “Ly hôn” đối với ông Lê N.
2. Xử:
* Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Hạ V được ly hôn với ông Lê N.
* Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, bà Trần Thị Hạ V phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp theo biên lai thu số 2678 ngày 26.4.2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà V đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Q. Thanh Khê; - Chi cục THSDS Q. Thanh Khê; - UBND phường G; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Cường |