- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị Tha Q.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2022/HNGĐ-ST Ngày 19 - 7 - 2022 “V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Thuône
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Tím
2. Ông Kim Diễn
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Bô Na, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đoàn Tố Quyên – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 59/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST- HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2022/QĐST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Tha Q, sinh năm 1994; địa chỉ ấp L, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Kim L, sinh năm 1990; địa chỉ ấp L, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt, lần thứ hai không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/02/2022, quá trính tố tụng nguyên đơn chị Thạch Thị Tha Q trình bày: Vào năm 2011 do quen biết và qua thời gian tìm hiểu nên chị và anh Kim L tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa, huyện Cầu Ngang vào ngày 28/8/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống bên cha mẹ chồng tại ấp L, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống có hạnh phúc, có quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nhưng đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất hòa trong cuộc sống, bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nên vợ chồng thường xuyên cự cải lẫn nhau, vợ chồng cũng cố gắng nhường nhịn lẫn nhau để cuộc sống êm ấm như trước nhưng không có kết quả và không tìm được tiếng nói chung nên từ đó chị đã trở về nhà cha mẹ ruột sống và ly thân với anh L từ năm 2019 đến nay. Từ lúc ly thân hai bên có tạo điều kiện hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay chị nhận thấy giữa chị và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Kim L; về con chung có 03 người con chung tên Kim Hoàng N, sinh ngày 20/8/2011; Kim Thị Thanh P, sinh ngày 18/4/2013 và Kim Thị Phương N, sinh ngày 10/01/2015 hiện nay cả 03 người con chung đang sống chung với gia đình anh Kim L, chị đồng ý giao 03 người chung cho anh Kim L được tiếp tục nuôi dương và chị đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng bằng 1.000.000 đồng/01 người con (03 người con bằng 1.000.000 đồng/tháng) đến khi 03 người con đủ 18 tuổi; về tài sản chung và nợ chung thì không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Thạch Thị Tha Q có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Kim L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
+ Việc tuân theo pháp pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Riêng bị đơn quá trình tố tụng Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn đều vắng mặt nên đã vi phạm nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy cuộc sống hôn nhân của chị Tha Q và anh L đã có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, thời gian ly thân đã lâu, không thể hàn gắn. Do đó, chị Tha Q yêu cầu ly hôn với anh Kim L là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung 03 người con chung tên Kim Hoàng N, sinh ngày 20/8/2011; Kim Thị Thanh P, sinh ngày 18/4/2013 và Kim Thị Phương N, sinh ngày 10/01/2015 điều có nguyện vọng sống với cha là anh Kim L nên tiếp tục giao cho anh L được tiếp tục nuôi con là phù hợp với nguyện vọng của 03 người con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 58 và 82 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Cho chị Thạch Thị Tha Q được ly hôn với anh Kim L.
Về con chung: Giao 03 người con chung tên Kim Hoàng N, sinh ngày 20/8/2011; Kim Thị Thanh P, sinh ngày 18/4/2013 và Kim Thị Phương N, sinh ngày 10/01/2015 cho anh Kim L được tiếp tục nuôi dưỡng, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của 03 con chung là Kim Hoàng N, Kim Thị Thanh P và Kim Thị Phương N.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Thạch Thị Tha Q đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi người con mỗi tháng bằng 1.000.000 đồng/01 người con. Thời gian cấp dưỡng từ ngày xét xử sơ thẩm (19/7/2022) đến khi 03 người con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Các đương sự không tranh chấp nên không đề nghị giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên đề nghị không đặt ra xem xét.
Về án phí đề nghị buộc nguyên đơn chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Theo đơn khởi kiện thì chị Thạch Thị Tha Q yêu cầu được ly hôn với anh Kim L và yêu cầu giải quyết về người trực tiếp nuôi con nên đây là vụ kiện “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; tại phiên tòa nguyên đơn chị Thạch Thị Tha Q có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Kim L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Thạch Thị Tha Q và bị đơn anh Kim L.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thạch Thị Tha Q và anh Kim L tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa, huyện Cầu Ngang vào ngày 28/8/2013 đúng quy định của luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị Thạch Thị Tha Q và anh Kim L là hợp pháp. Thời gian đầu anh, chị chung sống có hạnh phúc, có quan tâm chăm sóc lẫn nhau và thực hiện tốt nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Đến năm 2019 thì anh chị xảy ra mâu thuẫn, cự cải, mất niềm tin lẫn nhau và đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay mà không bên nào tạo điều kiện hàn gắn. Nay chị Tha Q cho rằng tình trạng hôn nhân giữa chị và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên chị yêu cầu được ly hôn với anh L; đối với bị đơn anh Kim L thì sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh L đều vắng mặt không rõ lý do, cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tha Q, điều này chứng tỏ anh L cũng không muốn hàn gắn lại với chị Tha Q. Từ đó, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Thạch Thị Tha Q và anh Kim L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị Thạch Thị Tha Q yêu cầu ly hôn với anh Kim L là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Giữa chị Thạch Thị Tha Q và anh Kim L 03 người con chung tên Kim Hoàng N, sinh ngày 20/8/2011; Kim Thị Thanh P, sinh ngày 18/4/2013 và Kim Thị Phương N, sinh ngày 10/01/2015. Hiện nay cả 03 người con chung của chị Tha Q và anh L đều đã trên 07 tuổi và đang sống trực tiếp với gia đình anh L; qua tiếp xúc thì cả 03 cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với anh Kim L; phía chị Tha Q cũng đồng ý giao cho anh Kim L được tiếp tục nuôi dưỡng 03 người con chung. Do đó, giao cho anh Kim L được tiếp tục nuôi dưỡng 03 người con chung tên Kim Hoàng N, Kim Thị Thanh P và Kim Thị Phương N là phù hợp với nguyện vọng của 03 người con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về phần cấp dưỡng nuôi con phía chị Thạch Thị Tha Q là người không trực tiếp nuôi con đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi người con là 1.000.000 đồng/tháng đến khi 03 người con đủ 18 tuổi. Xét thấy đây là sự tự nguyện của chị Thạch Thị Tha Q nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Trong vụ án này chị Thạch Thị Tha Q và anh Kim L không tranh chấp nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị Thạch Thị Tha Q và anh Kim L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Trong vụ án hôn nhân và gia đình thì nguyên đơn chị Thạch Thị Tha Q phải chịu; đồng thời chị Thạch Thị Tha Q phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 53, 56, 57 và Điều 58, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị Tha Q.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Thạch Thị Tha Q được ly hôn với anh Kim L.
+ Về con chung: Giao 03 người con chung tên Kim Hoàng N, sinh ngày 20/8/2011; Kim Thị Thanh P, sinh ngày 18/4/2013 và Kim Thị Phương N, sinh ngày 10/01/2015 cho anh Kim L được tiếp tục nuôi dưỡng, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của 03 con chung là Kim Hoàng N, Kim Thị Thanh P và Kim Thị Phương N.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Thạch Thị Tha Q đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi người con mỗi tháng bằng 1.000.000 đồng/01 người con (03 người con bằng 3.000.000 đồng). Thời gian cấp dưỡng từ ngày xét xử sơ thẩm (19/7/2022) đến khi 03 người con Kim Hoàng N, Kim Thị Thanh P và Kim Thị Phương N đủ 18 tuổi.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền ngăn cản, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được chung sống với bên trực tiếp nuôi. Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
+ Về tài sản chung: Chị Thạch Thị Tha Q và anh Kim L không tranh chấp, nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.
+ Về nợ chung: Chị Thạch Thị Tha Q và anh Kim L xác định không có, nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Thạch Thị Tha Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Tha Q đã nộp tạm ứng trước bằng 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009655 ngày 08/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, còn lại 300.000 đồng chị Thạch Thị Tha Q phải nộp tiếp.
Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt nguyên đơn và bị đơn báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TA tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Trà Cú; - Chi cục THADS huyện Trà Cú; - UBND xã Mỹ Hòa, huyện Cầu Ngang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Thuône |