vanban.org

Bản án 35/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vắng mặt ông Phan Văn Đ và bà Phạm Thị T.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Đ về việc ly hôn đối với bà Phạm Thị T. 1. Về hôn nhân: Ông Phan Văn Đ và bà Phạm Thị T được ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Phan Văn Đ yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với bà Phạm Thị T"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt ông Phan Văn Đ và bà Phạm Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 04-4-2022
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Kim Chung

2. Bà Lý Quốc Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 04 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp GK, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp GK, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Trình bày của ông Phan Văn Đ:

Hôn nhân: Ông Phan Văn Đ và bà Phạm Thị T tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 13/3/2013. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống. Ông Đ và bà T đã sống ly thân từ tháng 09/2021 cho đến nay, ông Đ nhận thấy ông và bà T không thể chung sống hòa hợp được với nhau nên ông Đ yêu cầu được ly hôn với bà T.

Về con chung: Ông Đ và bà T có 02 người con chung tên Phan Tuyết N sinh ngày 02/8/2011 (giới tính nữ) và Phan Khánh L sinh ngày 27/9/2012 (giới tính nữ), hiện đang sống chung với ông Đ. Khi ly hôn, ông Đ yêu cầu được tiếp nuôi dạy con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Phan Văn Đ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với vợ là bà Phạm Thị T. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Bà T có nơi cư trú tại ấp GK, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng bà Phạm Thị T vắng mặt không có lý do, ông Phan Văn Đ xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Đ, bà T theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Hôn nhân: Ông Phan Văn Đ và bà Phạm Thị T tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 13/3/2013. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Ông Đ và bà T đã sống ly thân từ tháng 09/2021 cho đến nay, nhận thấy vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc nên ông Đ yêu cầu được ly hôn với bà T. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông Đ và bà T đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống ông Đ xét thấy mâu thuẫn vợ chung đã đến mức trầm trọng, ông và bà T không thể tiếp tục chung sống với nhau, ông bà đã có thời gian dài sống ly thân. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để ông bà có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả, do bà T vắng mặt tại các phiên hòa giải. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho ông Đ và bà T được ly hôn là phù hợp.

Về con chung: Ông Đ và bà T có 02 người con chung tên Phan Tuyết N sinh ngày 02/8/2011 (giới tính nữ) và Phan Khánh L sinh ngày 27/9/2012 (giới tính nữ), hiện đang sống chung với ông Đ, ông Đ yêu cầu tiếp tục nuôi con. Xét thấy, các cháu N, Lam đã chung sống ổn định với ông Đ và có nguyện vọng được sống chung với cha, quá trình giải quyết vụ án, bà T không có ý kiến gì về vấn đề con chung nên cần chấp nhận để cho ông Đ được tiếp tục nuôi dạy con chung. Ông Đ không đặt ra yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Tài sản chung: Ông Đ xác định không có, bà T không có ý kiến gì về tài sản chung vợ chồng nên không xem xét.

Về nợ chung: Ông Đ xác định vợ chồng không có nợ chung, tại đơn xin xác nhận đề ngày 29/02/2022 của Ủy ban nhân xã TP, huyện Thới Bình xác nhận ông Đ và bà T không có tranh chấp với ai về nợ tại địa phương, bà T không có ý kiến gì về vấn đề nợ chung vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án không ai đặt ra yêu cầu xem xét về nợ chung của vợ chồng nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Đ phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xét xử vắng mặt ông Phan Văn Đ và bà Phạm Thị T.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Đ về việc ly hôn đối với bà Phạm Thị T.

2.1. Về hôn nhân: Ông Phan Văn Đ và bà Phạm Thị T được ly hôn.

2.2. Về con chung: Giao Phan Tuyết N sinh ngày 02/8/2011 (giới tính nữ) và Phan Khánh L sinh ngày 27/9/2012 (giới tính nữ) cho ông Đ tiếp tục nuôi dạy. ông Đ không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Bà T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

2.3. Tài sản chung, nợ chung: Không có.

3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Đ phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 20 tháng 01 năm 2022, ông Đ có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0014699 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Cỡ chữ