vanban.org

Bản án 35/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị N và anh Nguyễn Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06 – 5 – 2022
V/v tranh chấp về hôn nhân
và gia đình ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh T.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoàng.

Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Anh Thư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 06 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1973.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1973.

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Bình T, xã B, huyện T, tỉnh Đ.

Chị Lê Thị N, anh Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Nguyễn Văn T xác lập quan hệ hôn nhân năm 1991. Hôn nhân giữa chị N và anh T được xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu nhau, không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Chị N và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, không hòa hợp trong cuộc sống và thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân do anh T không chăm lo cho gia đình, chị N đã Nều lần khuyên ngăn nhưng anh T không thay đổi. Chị N xác định mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn.

Nay chị Lê Thị N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị N, anh T có 03 con chung tên Nguyễn Thị N, sinh ngày 01/4/1994; Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 23/6/1996 và Nguyễn Thị Yến O, sinh ngày 16/02/1998 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh T thống nhất, anh T và chị N xác lập quan hệ hôn nhân năm 1991, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự tìm hiểu và không có đăng ký kết hôn.

Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh Nều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có sự thống nhất trong cách sinh hoạt hàng ngày, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cải. Anh T thống nhất vợ chồng không còn chung sống từ năm 2017 đến nay. Khoảng thời gian ly thân, anh T và chị N có hàn gắn tình cảm nhưng không thành.

Nay anh Nguyễn Văn T thống nhất ly hôn với chị Lê Thị N.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh T, chị N có 03 con chung tên Nguyễn Thị N, sinh ngày 01/4/1994; Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 23/6/1996 và Nguyễn Thị Yến O, sinh ngày 16/02/1998 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:

Đơn khởi kiện (Bản chính); Giấy khai sinh của Nguyễn Thị Yến O (Bản sao); Giấy khai sinh của Nguyễn Thị N (Bản sao); Giấy khai sinh của Nguyễn Thị Yến N (Bản sao); 01 Chứng minh nhân dân của chị Lê Thị N (Bản sao chứng thực); 01 Sổ hộ khẩu (Bản sao chứng thực); Xác nhận nơi cư trú người bị kiện (Bản chính); Bản khai ngày 15/4/2022 của chị Lê Thị N (Bản chính); Bản khai của anh Nguyễn Văn T ngày 15/4/2022 (Bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Văn T cư trú tại ấp Bình T, xã B, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị N, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Xét thấy, chị N và anh T chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn là vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Trong quá trình chung sống chị N và anh T phát sinh Nều mâu thuẫn, do không có sự hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có sự thống nhất trong cách sinh hoạt hàng ngày. Điều này chứng minh, hôn nhân giữa chị N và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do chị N và anh T không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị N và anh T là phù hợp.

Về con chung: Con chung tên Nguyễn Thị N, sinh ngày 01/4/1994; Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 23/6/1996 và Nguyễn Thị Yến O, sinh ngày 16/02/1998. Đã thành niên, có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị N và anh T xác định tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 9 và Điều 14, Điều 51, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N.

- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị N và anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Con chung tên Nguyễn Thị N, sinh ngày 01/4/1994; Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 23/6/1996 và Nguyễn Thị Yến O, sinh ngày 16/02/1998. Đã thành niên, có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị N và anh T tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0010047 ngày 01/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Chị Lê Thị N đã nộp xong tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ