vanban.org

Bản án 35/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị L và ông Huỳnh Ngọc D. 2. Về nuôi con: Giao con chung Huỳnh Ngọc K, sinh ngày 31/5/2013 và Huỳnh Ngọc K1, sinh ngày 30/3/2015 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Thời hạn giao con chung cho bà L kể từ ngày Bản án có hiệu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2022/HNGĐ-ST
Ngày 28 - 10 - 2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Tấn Lãm

Bà Nguyễn Thị Mùa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hương – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2022/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1988 “có mặt”;

- Bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc D, sinh năm 1983 “vắng mặt”;

Cùng nơi cư trú: Thôn 5, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện ngày 09 tháng 6 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị L trình bày:

- Về hôn nhân: bà Lê Thị L và ông Huỳnh Ngọc D tự nguyện chung sống với nhau và tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống dân tộc Việt Nam vào năm 2012 và sau đó có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 28/01/2013. Trong thời gian chung sống vợ chồng bà L, ông D có hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do ông D nghiện uống rượu, thường xuyên có hành vi bạo lực (đánh đập) bà L. Nay bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân giữa hai vợ chồng bà không thể kéo dài. Mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Huỳnh Ngọc D.

- Về con chung: Bà L và ông D có 02 người con chung là Huỳnh Ngọc K, sinh ngày 31/5/2013 và Huỳnh Ngọc K1, sinh ngày 30/3/2015. Khi ly hôn bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Thiện cho đến khi thành niên.

- Về cấp dưỡng: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn ông Huỳnh Ngọc D vắng mặt và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Mặc dù đã được Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ và làm thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ vụ án. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị L được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc D.

Về con chung: Giao người con chung là Huỳnh Ngọc K, sinh ngày 31/5/2013 và Huỳnh Ngọc K1, sinh ngày 30/3/2015 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết do tại phiên tòa bà L không có yêu cầu.

Các vấn đề khác giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết bà Lê Thị L khởi kiện ông Huỳnh Ngọc D yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bị đơn ông Huỳnh Ngọc D có nơi cư trú cuối cùng tại xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước nên căn cứ vào các quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện B.

Đối với bị đơn ông Huỳnh Ngọc D đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhưng ông D vẫn vắng mặt lần hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị L và ông Huỳnh Ngọc D tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thốngcủa dân tộc Việt Nam vào năm 2012 và sau đó có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước và ngày 28/01/2013. Xét, đây là hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ lời khai của bà L trong quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng giữa bà L, ông D chung sống với nhau không có hạnh phúc và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do ông D nghiện uống rượu, thường xuyên có hành vi bạo lực (đánh đập) bà L. Nay bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho ly hôn giữa bà Lê Thị L và ông Huỳnh Ngọc D.

Về con chung: Trong thời gian chung sống giữa bà L và ông D có 02 người con chung là cháu Huỳnh Ngọc K, sinh ngày 31/5/2013 và cháu Huỳnh Ngọc K1, sinh ngày 30/3/2015; khi ly hôn bà L yêu cầu đươc trực tiếp nuôi các con chung cho đến khi thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy: yêu cầu được nuôi con là quyền, nghĩa vụ của bà L và ông D đã được quy định tại điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Hiện nay, cháu Khang và cháu Khánh đã trên 7 tuổi nên Tòa án đã tiến hành lấy lời khai đối với các cháu Khang và Khánh và các cháu có nguyện vọng được sống với bà L. Do đó, để tạo điều kiện cho các cháu phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức cũng như để không gây ra sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của các cháu nên đối với yêu cầu bà L về việc trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung sau khi ly hôn là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa bà L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Các vấn đề khác: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyêt.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 40, Điều 147, Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L.

1.1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị L và ông Huỳnh Ngọc D.

1.2. Về nuôi con: Giao con chung Huỳnh Ngọc K, sinh ngày 31/5/2013 và Huỳnh Ngọc K1, sinh ngày 30/3/2015 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Thời hạn giao con chung cho bà L kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà L phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006254 ngày 27 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Phước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ