vanban.org

Bản án 35/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP XNK VN.

1 Buộc chị Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP XNK VN số tiền nợ gốc 550.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 170.220.000 đồng; tiền lãi quá hạn 95.929.000 đồng; Tổng gốc và lãi 816.149.000 đồng (Tám trăm mười sáu triệu một trăm bốn mưới chín nghìn đồng). 2 Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP XNK VN.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2022/DSST
Ngày 06-6-2022
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Th Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Điểu Nhót và bà Hoàng Thị Tám.

Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Nhàn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 105/2021/TLST-DS, ngày 17/03/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2022/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần XNK VN.

Trụ sở: Tầng 8, Tòa nhà Vin com Center, số 27 đường M, phường N, Quận P, TP. Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Văn Th – C/v Trưởng phòng khách hàng cá nhân Ngân hàng TMCP XNK VN – CN Buôn Mê Thuột. Có mặt

Địa chỉ: Số 114-116 đường M, phường N, TP. P, tỉnh Đăk Lăk.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản khác trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 10/5/2019 giữa Ngân hàng TMCP XNK VN (Eximbank) – CN Buôn Mê Thuột với chị Nguyễn Thị M ký kết hợp đồng tín dụng số LAV-190042459/1201 theo đó Ngân hàng đồng ý cho chị Nguyễn Thị M vay số tiền 550.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 12%/năm áp dụng cố định trong 03 tháng đầu sau đó được điều chỉnh theo hợp đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ngày 09/05/2019 anh chị M ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 202/2019/EIB BMT/HĐTC thế chấp thửa đất số 50 tờ bản đồ số 101, diện tích 13123.8m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO997359 do Sở Tài nguyên và môi trường cấp ngày 01/04/2019; thửa đất số 44 tời bản đồ số 101, diện tích 11290.3m2, theo GCNQSDĐ số CO997358 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đăk Nông cấp ngày 01/4/2019, các thửa đất tọa lạc tại xã Đăk RLa, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông.

Từ thời điểm nhận nợ cho đến nay chị M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và liên tiếp vi phạm các kỳ trả nợ theo hợp đồng. Qua nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng chị M vẫn không có thiện chí trả nợ. Do đó Ngân hàng TMCP XNK VN khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chị Oanh phải trả số tiền nợ gốc 550.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm như sau: tiền lãi trong hạn 170.220.000 đồng; lãi quá hạn 95.929.000 đồng; Tổng gốc và lãi 816.149.000 đồng.

Trường hợp chị M không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 202/2019/EIB BMT/HĐTC ngày 09/5/2019.

Trường hợp số tiền thu được từ tài sản đảm bảo không đủ để Th toán khoản nợ thì chị M phải tiếp tục trả số nợ còn lại cho đến khi Th toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP XNK VN.

Yêu cầu chị M tiếp tục trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả nợ xong theo lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị M: Quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã triệu tập nhiều lần nhưng chị M không đến Tòa án làm việc. Qua xác minh tại chính quyền địa phương được biết chị Oanh có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông. Hiện nay chị M đã bỏ đi khỏi địa phương không có mặt tại địa phương. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và về nội dung vụ án phát biểu như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc thụ lý giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Qua các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị M phải trả cho Ngân hàng TMCP XNK VN số tiền gốc 550.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 06/6/2021 như sau: tiền lãi trong hạn 170.220.000 đồng; lãi quá hạn 95.929.000 đồng; Tổng gốc và lãi 816.149.000 đồng.

Các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Bản sao y Hồ sơ pháp lý của Ngân hàng, hồ sơ Tín dụng, hồ sơ khách hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP XNK VN khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị M trả số tiền nợ gốc 550.000.000 đồng và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị M cư trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP XNK VN và hợp đồng tín dụng các bên ký kết, HĐXX xét thấy: Ngày 10/5/2019 giữa Ngân hàng TMCP XNK VN (Eximbank) – CN Buôn Mê Thuột với chị Nguyễn Thị M ký kết hợp đồng tín dụng số LAV-190042459/1201 theo đó Ngân hàng đồng ý cho chị Nguyễn Thị M vay số tiền 550.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 12%/năm áp dụng cố định trong 03 tháng đầu sau đó được điều chỉnh theo hợp đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ngày 09/05/2019 anh chị M ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 202/2019/EIB BMT/HĐTC thế chấp thửa đất số 50 tờ bản đồ số 101, diện tích 13123.8m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO997359 do Sở Tài nguyên và môi trường cấp ngày 01/04/2019; thửa đất số 44 tời bản đồ số 101, diện tích 11290.3m2, theo GCNQSDĐ số CO997358 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đăk Nông cấp ngày 01/4/2019, các thửa đất tọa lạc tại xã N, huyện P1, tỉnh Đăk Nông.

Từ thời điểm nhận nợ cho đến nay chị M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và liên tiếp vi phạm các kỳ trả nợ theo hợp đồng. Qua nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng chị M vẫn không có thiện chí trả nợ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm chị M cong nợ số tiền gốc 550.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 170.220.000 đồng; lãi quá hạn 95.929.000 đồng; Tổng gốc và lãi 816.149.000 đồng. Như vậy chị M đã vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng TMCP XNK VN:

Xét hợp đồng thế chấp QSDĐ số 202/2019/EIB BMT/HĐTC ngày 09/5/2019 đối với thửa đất số 50 tờ bản đồ số 101, diện tích 13123.8m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO997359 do Sở Tài nguyên và môi trường cấp ngày 01/04/2019; thửa đất số 44 tời bản đồ số 101, diện tích 11290.3m2, theo GCNQSDĐ số CO997358 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đăk Nông cấp ngày 01/4/2019, các thửa đất tọa lạc tại xã N, huyện P1, tỉnh Đăk Nông. HĐXX xét thấy hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản, các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng theo quy định của pháp luật quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319 Bộ luật dân sự, nên hợp đồng đã phát sinh hiệu lực giữa các bên.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thành lập Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ đối với các thửa đất số 101, diện tích 13123.8m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO997359 do Sở Tài nguyên và môi trường cấp ngày 01/04/2019; thửa đất số 44 tời bản đồ số 101, diện tích 11290.3m2, theo GCNQSDĐ số CO997358 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đăk Nông cấp ngày 01/4/2019. Qua xem xét thẩm định tại chỗ xác định các thửa đất trên thực tế đúng vị trí, diện tích, tứ cận theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Vì vậy, HĐXX xét thấy yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng TMCP XNK VN là có căn cứ chấp nhận.

Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP XNK VN, buộc chị Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP XNK VN số tiền nợ gốc 550.000.000 đồng, , nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm như sau: tiền lãi trong hạn 170.220.000 đồng; lãi quá hạn 95.929.000 đồng; Tổng gốc và lãi 816.149.000 đồng.

Trường hợp chị M không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 202/2019/EIB BMT/HĐTC ngày 09/5/2019.

Trường hợp số tiền thu được từ tài sản đảm bảo không đủ để Th toán khoản nợ thì chị M phải tiếp tục trả số nợ còn lại cho đến khi Th toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP XNK VN.

Buộc chị M tiếp tục trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả nợ xong theo lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký.

Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn chị Nguyễn Thị M phải chịu toàn bộ chi phí trên. Ngân hàng TMCP XNK VN đã nộp tạm ứng số tiền trên. Buộc chị M phải trả cho Ngân hàng TMCP XNK VN 3.000.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn chị Nguyễn Thị M phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 36.484.470 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP XNK VN số tiền 14.944.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005226 ngày 11/03/2021 tại Chi cục THA Dân sự huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 299; Điều 317; Điều 320; Điều 322; Điều 323; Điều 385; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP XNK VN.

1.1 Buộc chị Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP XNK VN số tiền nợ gốc 550.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 170.220.000 đồng; tiền lãi quá hạn 95.929.000 đồng; Tổng gốc và lãi 816.149.000 đồng (Tám trăm mười sáu triệu một trăm bốn mưới chín nghìn đồng).

1.2 Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP XNK VN có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 202/2019/EIB BMT/HĐTC ngày 09/5/2019.

1.3 Trường hợp số tiền thu được từ tài sản đảm bảo không đủ để Th toán khoản nợ thì chị M phải tiếp tục trả số nợ còn lại cho đến khi Th toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP XNK VN.

1.4 Buộc chị Nguyễn Thị M tiếp tục trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả nợ xong theo lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký.

2. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, bị đơn chị Nguyễn Thị M phải chịu toàn bộ chi phí trên. Ngân hàng TMCP XNK VN đã nộp tạm ứng số tiền trên. Buộc chị M phải trả cho Ngân hàng TMCP XNK VN 3.000.000 đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị M phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 36.484.470 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP XNK VN số tiền 14.944.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005226 ngày 11/03/2021 tại Chi cục THA Dân sự huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.”

Cỡ chữ