- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam - Lý Thị Siêu Ý - tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2022/DS-ST. Ngày: 12 - 9 - 2022. V/v: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhẫn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Ngọc Hà.
Ông Lê Văn Danh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 12 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 59/2022/TLST-DS, ngày 20 tháng 6 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2022/QĐST-DS, ngày 09/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 117/2022/QĐST-DS ngày 29/8/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T- Tổng giám đốc Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.
Địa chỉ:169, phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Hải A - Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện C, tỉnh S.
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh S . Theo Quyết định ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS, ngày 19/9/2019.
Người đại diện theo ủy quyền của ông A: Bà Trần Thị H- Phó Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện C, tỉnh S.
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh S (có mặt). Theo Quyết định ủy quyền số 80/UQ-NHCS, ngày 07/7/2021.
- Bị đơn: Bà Lý Thị Siêu Y, sinh năm 1977 (vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần H1, sinh năm 1971 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp A1, xã A, huyện C, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/5/2022 của nguyên đơn Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hải A: Bà Trần Thị H trình bày:
- Khoản vay thứ nhất: Vào ngày 19/8/2019 phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện C, tỉnh S đã giải ngân có cho bà Lý Thị Siêu Y vay 12.000.000 đồng để xây dựng công trình nước sạch và vệ sinh môi trường, lãi suất 0,75%/tháng, lãi quá hạn 0,975%/tháng, thời hạn vay 05 năm, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 19/8/2024, số dư nợ đến ngày 20/5/2022 là 11.000.000 đồng. Theo thỏa thuận 06 tháng trả tiền gốc 1 lần, lãi trả định kỳ hàng tháng vào ngày 19; tuy nhiên, bà Lý Thị Siêu Y không thực hiện đúng theo hợp đồng. Đến ngày 20/5/2022 bà Lý Thị Siêu Y vẫn còn nợ 11.000.000 đồng và lãi phát sinh đến ngày 20/5/2022 là 434.143 đồng.
- Khoản vay thứ hai: Vào ngày 19/8/2019 phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện C, tỉnh S đã giải ngân có cho bà Lý Thị Siêu Y vay 40.000.000 đồng để chăn nuôi bò, lãi suất 0,6875%/tháng, lãi quá hạn 0,89375%/tháng, thời hạn vay 05 năm, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 19/8/2024, số dư nợ đến ngày 20/5/2022 là 38.500.000 đồng. Theo thỏa thuận 12 tháng trả tiền gốc 1 lần, lãi trả định kỳ hàng tháng vào ngày 19; tuy nhiên, bà Lý Thị Siêu Y không thực hiện đúng theo hợp đồng. Đến ngày 20/5/2022 bà Lý Thị Siêu Y vẫn còn nợ 38.500.000 đồng và lãi phát sinh đến ngày 20/5/2022 là 1.834.542 đồng.
Nay, Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu bà Lý Thị Siêu Y trả số tiền gốc và lãi tổng cộng là 40.334.542 đồng. Trong đó: Nợ gốc 38.500.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 20/5/2022 là 1.834.542 đồng.
Đối với bị đơn bà Lý Thị Siêu Y và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần H1:
Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hợp lệ, nhưng đến nay bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn không có ý kiến bằng văn bản gởi cho Toà án đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn; Toà án đã tống đạt thông báo, giấy triệu tập về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải hợp lệ đến lần thứ 2, nhưng bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do, nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử xét áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tung dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi nội dung đơn khởi kiện, cụ thể yêu cầu tính lãi từ ngày 20/5/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 12/9/2022. Xét thấy, việc thay đổi nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn là không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung:
Xét thấy, theo lời trình bày của nguyên đơn là:
- Khoản vay thứ nhất: Vào ngày 19/8/2019 phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện C, tỉnh S đã giải ngân có cho bà Lý Thị Siêu Y vay 12.000.000 đồng để xây dựng công trình nước sạch và vệ sinh môi trường, lãi suất 0,75%/tháng, lãi quá hạn 0,975%/tháng, thời hạn vay 05 năm, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 19/8/2024, số dư nợ đến ngày 20/5/2022 là 11.000.000 đồng. Theo thỏa thuận 06 tháng trả tiền gốc 1 lần, lãi trả định kỳ hàng tháng vào ngày 19; tuy nhiên, bà Lý Thị Siêu Y không thực hiện đúng theo hợp đồng. Đến ngày 20/5/2022 bà Lý Thị Siêu Y vẫn còn nợ 11.000.000 đồng và lãi phát sinh đến ngày 20/5/2022 là 434.143 đồng.
- Khoản vay thứ hai: Vào ngày 19/8/2019 phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện C, tỉnh S đã giải ngân có cho bà Lý Thị Siêu Y vay 40.000.000 đồng để chăn nuôi bò, lãi suất 0,6875%/tháng, lãi quá hạn 0,89375%/tháng, thời hạn vay 05 năm, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 19/8/2024, số dư nợ đến ngày 20/5/2022 là 38.500.000 đồng. Theo thỏa thuận 12 tháng trả tiền gốc 1 lần, lãi trả định kỳ hàng tháng vào ngày 19; tuy nhiên, bà Lý Thị Siêu Y không thực hiện đúng theo hợp đồng. Đến ngày 20/5/2022 bà Lý Thị Siêu Y vẫn còn nợ 38.500.000 đồng và lãi phát sinh đến ngày 20/5/2022 là 1.834.542 đồng.
Nay, Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu bà Lý Thị Siêu Y trả số tiền gốc và lãi tổng cộng là 40.334.542 đồng. Trong đó: Nợ gốc 38.500.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 20/5/2022 là 1.834.542 đồng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án chứng cứ gồm: Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay; sổ vay vốn được thể hiện số tiền bị đơn có vay 02 khoản vay tổng cộng số tiền vốn vay là 52.000.000 đồng và bảng chiết tính nợ vay và lãi và yêu cầu bị đơn Lý Thị Siêu Y và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần H1 phải trả cho Ngân hàng tiền vốn gốc là 49.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 12/9/2022 là 2.161.241 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là: 51.661.241 đồng.
Từ những nhận định trên, nên lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn, tuy nhiên bị đơn vay thuộc đối tượng vay chương trình hộ nghèo, nên bị đơn không phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tung dân.
- Điều 357, 463, 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Châp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Lý Thị Siêu Y và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần H1 trả cho nguyên đơn Ngân hàng chính sách Xã hội Việt Nam số tiền vay gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 12/9/2022 là 51.661.241 đồng. Trong đó:
- Nợ gốc: 49.500.000 đồng
- Lãi: 2.161.241 đồng
Tổng cộng vốn và lãi là: 51.661.241 đồng.
2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn phải trả lãi cho nguyên đơn mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Người thừa kế hợp pháp của bị đơn được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án tỉnh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Nhẫn |